- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
- Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 526/2017/HSPT Ngày: 25/9/2017 |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Việt Tiên
Các Thẩm phán:
1. Bà Phạm Uyên Thy
2.Bà Nguyễn Thị Hà
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang– Cán bộ Tòa
án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hà- Kiểm sát viên
Ngày 25/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử
phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 484/2017/HSPT ngày 01/9/2017 đối với bị cáo
Nguyễn Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số
112/2017/HSST ngày 26/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố
Hồ Chí Minh.
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Văn N; giới tính: nam; sinh N: 1961; tại: Trà Vinh; TH trú: Ấp P.T,
xã Thanh M, huyện Châu T, tỉnh Trà Vinh; Chỗ ở: Tổ 7X, Ấp C.C, xã Phú H.Đ,
huyện C.C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 05/12; nghề nghiệp: làm
thuê; con ông: Nguyễn Văn T và bà: Nguyễn Thị N; hoàn cảnh gia đình: có vợ bà
Trần Thị H (người bị hại trong vụ án) và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: N 2001 bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ
Chí Minh xử phạt 06 (sáu) N tù về tội “Giết người” chấp hành xong hình phạt N
2004.
Bị cáo tạm giam ngày 17/01/2017 (có mặt)
NHẬN THẤY:
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và bản án
hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, thì
nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17h 30 phút ngày 06/9/2016, Nguyễn Văn N cùng bạn tổ chức
uống rượu tại nhà. Đến 19h30 phút cùng ngày thì hết rượu nên N có điện thoại cho
bà Trần Thị H (vợ bị cáo) đang đi chơi ở nhà của người bạn gần đó mua cho bị cáo
01 lít rượu. Khoảng 20h cùng ngày, bà H cầm rượu về cho N. N la mắng bà H và
nói bà H đưa cho N 300.000 đồng để trả tiền mua chó nhưng bà H không đồng ý
nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. Lúc này, bà H ngồi cách N khoảng 2 mét, N dùng
tay phải cầm lấy cái chén bằng thủy tinh có đường kính khoảng 08cm, dày 02mm, cao khoảng 06cm đang ở chỗ N ngồi uống rượu ném trúng vào trán trái, mắt trái của bà H gây thương tích.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 699/ Tg.T16 ngày
3/11/2016 của Trung tâm pháp y kết luận đối với thương tích của người bị hại H là 38%.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 112/2017/HSST ngày 26/7/2017 của Tòa án
nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng Khoản 3, Điều 104, điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 07 (bảy) N tù. Thời hạn tù tính từ ngày
17/01/2017
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và thời hạn kháng cáo.
Ngày 31/7/2017, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt .
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa phúc thẩm, qua xét hỏi bị cáo N đã khai nhận hành vi phạm tội
của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cũng như xin xem xét lại phần bồi thường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh sau khi tóm tắt nội
dung, phân tích tính chất vụ án những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo N phù hợp với lời khai của người bị
hại, kết hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án xét đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Vào khoảng 17h 30 phút ngày 06/9/2016, bị cáo N cùng bạn tổ chức uống rượu tại nhà. Đến 19h30 phút cùng ngày thì hết rượu nên bị cáo có điện thoại cho bà Trần Thị H (vợ bị cáo) đang đi chơi ở nhà của người bạn gần đó mua cho bị cáo 01 lít rượu. Khoảng 20h cùng ngày, bà H cầm rượu cho bị cáo. Bị cáo la mắng bà H và nói bà H đưa cho bị cáo 300.000 đồng để trả tiền mua chó nhưng bà H không đồng ý nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. Lúc này, bà H ngồi cách bị cáo khoảng 2 mét, bị cáo dùng tay phải cầm lấy cái chén bằng thủy tinh có đường kính khoảng 08cm, dày 02mm, cao khoảng 06cm đang ở chỗ bị cáo ngồi uống rượu ném trúng vào trán trái, mắt trái của bà H gây thương tích.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 699/ Tg.T16 ngày
3/11/2016 của Trung tâm pháp y kết luận đối với thương tích của người bị hại H là 38%.
Với các hành vi như đã nêu trên của bị cáo N, xét thấy án sơ thẩm đã xét xử
bị cáo N về tội “Cố ý gây thương tích” theo Khoản 3 Điều 104 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Xét hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Chỉ vì bực tức bị cáo đã dùng cái chén bằng thủy tinh là hung khí nguy hiểm gây thương tích 38% cho người bị hại. Về nhân thân của bị cáo N xấu đã từng bị xét xử về tội “Giết người” do đó cần xử phạt nghiêm. Tuy
nhiên, án sơ thẩm cũng có xem xét cho bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối
cải nên đã xử phạt bị cáo 07 năm tù.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa hôm nay bị cáo không trình bày thêm tình tiết gì
mới. Mặt khác, án sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị
cáo nghĩ nên giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Áp dụng Điểm a, Khoản 2 Khoản 3 Điều 248 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng Khoản 3, Điều 104, điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
17/01/2017.
Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi!nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM!
- TAND TC;
(1)
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1)
- VKSND TP.HCM;
(3)
- VKSND huyện Củ Chi;
(1)
- P.PC53 - CATP;
(1)
- Bị cáo;
(1)
- THA huyện Củ Chi;
(1)
- TAND huyện Củ Chi;
(1)
- Công an huyện Củ Chi;
(1)
- UBND nơi BC cư trú;
(1)
- Sở Tư pháp;
(1)
- Lưu, tòa hình sự, hồ sơ (25) (4)
Huỳnh Thị Việt Tiên