- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mạc Văn Th - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (điều 175 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 524/2019/HSPT Ngày: 16-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Khoa
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Công
Ông Đặng Văn Ý
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 600/2018/TLPT-HS ngày 25
tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo Mạc Anh Th do có kháng cáo của bị cáo đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2018/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 716/2019/QĐPT-HS ngày
22 tháng 8 năm 2019.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên:
(tên gọi khác:
tỉnh
Long; Nơi cư trú:
TB
TH,
n; Trình độ học vấn: lớp 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
k
nam; Con ông
Lê Thị Thanh H; C
là Võ Thị Cẩm T
người con sinh năm 2012; Tiền án: không; T
n
24/01/2018,
CT
,
Bị cáo đa
(có
).
-
Ông
;
TB
TH,
(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Ngày 24/01/2018, Mạc Anh Th bị Công an huyện CT, tỉnh Đồng Tháp xử
phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.000.000 đồng về hành vi khai thác khoáng sản không có giấy phép khai thác khoáng sản của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thắng đã nộp phạt ngày 31/01/2018.
Khoảng 00 giờ 30 ngày 14/3/2018, Mạc Anh Th cùng với cha ruột là Mạc
Thanh S, sử dụng phương tiện ghe gỗ không có biển số đang hút cát từ lòng sông lên ghe được khoảng 02m3 (hai mét khối) tại thủy phận sông Tiền thuộc ấp TH, xã AN, huyện CT, tỉnh Đồng Tháp, thì bị Tổ tuần tra Phòng Cảnh sát đường thủy Công an tỉnh Đồng Tháp phát hiện bắt quả tang cùng với các tang vật gồm: 01 ghe gỗ không có số đăng ký, trọng tải khoảng 10 tấn, dài 13,5 mét, rộng 2,4 mét, chiều sâu lòng ghe 1,2 mét đã qua sử dụng; 01 máy hiệu Yanmar không rõ công suất, đã qua sử dụng; 01 máy hiệu Kia không rõ công suất, đã qua sử dụng; 01 đầu bơm có đường kính 100mm, đã qua sử dụng; 01 cái máy dầu loại D12, đã qua sử dụng; 01 ống nhựa dài 16 mét, đường kính 100mm, đã qua sử dụng; 01 ống nhựa dài 3,5 mét, đường kính 100mm, đã qua sử dụng; 01 ống nhựa dài 0,7 mét, đường kính 100mm, đã qua sử dụng và 01 tuýp sắt dài 02 mét, đường kính 49mm, một đầu có hàn khối sắt, đã qua sử dụng. Tất cả các tang vật này đều dùng vào việc bơm hút cát lên ghe.
Các vật chứng nêu trên, quá trình điều tra đã xác định được là của ông Mạc
Thanh S mua của ông Trần Tấn Đ, sinh năm 1991 ngụ ấp PA 1, xã BHP, huyện LH, tỉnh Vĩnh Long vào đầu năm 2017 với giá là 20.000.000 đồng. Đến ngày 14/3/2018 thì Mạc Anh Th cùng với ông Mạc Thanh S sử dụng các phương tiện trên vào việc phạm tội.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 39/KLDG-HĐ ngày 20/4/2018 của hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện CT kết luận 02m3 (hai mét khối) cát mà Hậu đã hút lên ghe có trị giá là 120.000 đồng.
Ngày 14/3/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CT phối hợp với
Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Đồng Tháp sử dụng máy định vị để xác định vị trí Thắng khai thác cát với sự chứng kiến của ông Mạc Thanh S (người cùng khai thác cát với Mạc Anh Th), vị trí Thắng khai thác cát được xác định tại tọa độ E00596694; N01137171 thuộc thủy phận ấp TH, xã AN, huyện CT, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 24/4/2018 Sở Tài nguyên và Môi trường có công văn số
1223/STNMT-TNNKS xác định: Đến thời điểm hiện nay trên địa bàn tỉnh Đồng
Tháp chỉ có 03 đơn vị được cấp phép khai thác cát là: Công ty Cổ phần xây lấp và
vật liệu xây dựng Đồng Tháp; Công ty Cổ phần đầu tư phát triển nhà và Khu công
nghiệp Đồng Tháp và Công ty trách nhiệm hữu hạn khai thác cát ĐT. Ủy ban nhân
dân tỉnh Đồng Tháp không có cấp phép khai thác cát cho ông Mạc Anh Th, sinh
năm 1992 và ông Mạc Thanh S, sinh năm 1969 cùng ngụ ấp TB, xã TH, thành phố
VL, tỉnh Vĩnh Long.
Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 05 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo
về tội “
” the
khoản 1 Điều 227 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2018/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2018
của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo
phạm tội
nguyên”.
Xử phạt bị cáo
.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 10 tháng 12 năm 2018, bị cáo Mạc Anh Th kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Mạc Anh Th đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử và xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về tội danh: Với hành vi
02m3 cát trái phép, mặc dù trước
đó đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này, nên Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị
cáo Mạc Anh Th về
theo
Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp
luật.
Về hình phạt: Mức hình phạt 06 tháng tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối
với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo
có xuất trình giấy xác nhận của chính quyền địa phương, xác nhận bị cáo có nhân
thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ thất nghiệp, con còn nhỏ (sinh năm
2012), bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không thực hiện quyền tự bào chữa.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án
treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bản án sơ thẩm được tuyên ngày
29/11/2018, bị cáo có mặt tại phiên toà sơ thẩm. Bị cáo nộp đơn kháng cáo ngày 10/12/2018. Do đó, đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để được thụ lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Mạc Anh Th tại phiên tòa phúc thẩm là
phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà án sơ thẩm đã quy kết buộc tội, phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án đã chứng minh tại phiên tòa. Từ đó Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:
TH
AN
CT
, Mạc Anh
và các công cụ khác như ống hút, máy bơm,
02m3 ,
,
CT, tỉnh
.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội,
là nguyên nhân gây nên nạn sạt lở bờ sông, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Th về tội
theo
Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, như
khẩn
H
năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo có xuất trình
văn bản xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú; có nội dung bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ thất nghiệp, con còn nhỏ (sinh năm 2012), bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới cần được áp dụng đối với bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51. Như vậy, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 như đã phân tích ở trên; hành vi phạm tội của bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; đồng thời bị cáo có
nơi cư trú rõ ràng. Do đó, bị cáo hội đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo
quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị
quyết số 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy kháng cáo của bị cáo và đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà là có căn cứ, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp
nhận. Cần thiết phải sửa bản án sơ thẩm.
Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Th không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mạc Anh Th. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm
số 49/2018/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp.
1/ Tuyên bố: Bị cáo
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017;
Áp dụng Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội
đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao,
Xử phạt bị cáo
06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời
gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Mạc Anh Th cho Uỷ ban nhân dân xã TH, thành phố VL, tỉnh
Vĩnh Long theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình
các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc theo dõi,
giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo
quy định tại Điều 64 Luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo
phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong
thời gian thử thách, bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại
khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
2/ Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Mạc Anh Th không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
3/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Công an tỉnh Đồng Tháp; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; - Cục THADS tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - UBND xã TH, thành phố VL, tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: HS, 18b (HQ). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Khoa |