vanban.org

Bản án 523/2021/HSPT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 22/12/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của: b cáo Hà Th T và các b hại Phan Văn H, Ngân hàng TMCP X Việt Nam, Ngân hàng TMCP A.

Chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng TMCP Y Việt Nam và sửa bản án sơ thẩm về phần kiến ngh , về trách nhiệm dân sự. Xử: [1] Áp dụng iểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; iểm s khoản 1 Điều 51, iểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thị T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của: b cáo Hà Th T và các b hại Phan Văn H, Ngân hàng TMCP X Việt Nam, Ngân hàng TMCP A.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Về giao dịch bảo đảm; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 523/2021/HSPT
Ngày: 22-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Thanh

Các thẩm phán:

Ông Phạm Việt Cường

Ông Trần Quốc Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Ra, Kiểm sát viên.

Vào ngày 22 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 496/2021/TLPT-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021 ối v i cáo Hà Th T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do có kháng cáo của cáo ối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2021/HSST ngày 22/9/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hà Thị T, sinh năm 1980 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi ăng ký HKTT: Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình ộ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Hà Xuân Đ và à Vũ Th Đ có chồng là Lê Văn C ( ã ly hôn) và 02 con; tiền án: không, tiền sự: không; ắt tạm giam từ ngày 11/9/2018, hiện cáo ang tạm giam tại Trại tạm giam T20 Công an tỉnh Gia Lai.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Mai Văn T, luật sư, văn phòng luật sư Mai Nguyễn thuộc Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai- Có mặt.

* Bị hại có kháng cáo:

1. Ông Phan Văn H.

Trú tại: Làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai- Vắng mặt.

2. Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) X Việt Nam Chi nhánh Nam Gia Lai. Có ông Nguyễn Tiến P, ại diện theo Quyết nh ủy quyền số 1183/QĐ-X.NGL ngày 15/9/2021.

Đ a chỉ: tỉnh Gia Lai- Có mặt.

3. Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) A Chi nhánh Gia Lai. Có ông Nguyễn Vũ H, ại diện theo văn ản ủy quyền số 356/UQ-TGĐ.21 ngày 13/9/2021

Đ a chỉ:, tỉnh Gia Lai- Có mặt.

4. Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Y Việt Nam Chi nhánh Gia Lai. Có ông Nguyễn Tấn Đ, Trưởng phòng giao d ch C, ại diện theo văn ản ủy quyền số 78/UQ-NHNTGL ngày 21/9/2021. Đ a chỉ: tỉnh Gia Lai- Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Văn C. Vắng mặt

Trú tại: tổ dân phố 12, th trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai

2. Bà Hà Hồng H, sinh năm 1984. Vắng mặt

Trú tại: thôn tỉnh Thanh Hóa

* Người làm chứng:

1. Ông Vũ Đức H, sinh năm 1980. Vắng mặt.

Trú tại: huyện C, tỉnh Gia Lai

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2013 ến năm 2018; Hà Th T ã dùng thủ oạn gian dối ối v i nhiều người ồng ào dân tộc thiểu số ở xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai ằng cách cho họ vay tiền, rồi lợi dụng việc những người này không iết chữ hoặc thiếu hiểu iết về pháp luật, T ưa cho họ ký tên vào các hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất nhưng không nói cho họ iết ây là các hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất cho Hà Th T và Lê Văn C (C là chồng cũ của T, ã ly hôn vào năm 2012) hoặc T nhờ vợ chồng em gái của T (là Hà Hồng H- Vũ Đức H) ứng tên trên các giấy chứng nhận quyền sử dụng ất (gọi tắt là GCNQSDĐ), nhằm chiếm oạt tài sản của họ. Sau ó T làm thủ tục thế chấp quyền sử dụng ất cùng các GCNQSDĐ này ể vay số tiền l n tại các Ngân hàng trên a àn tỉnh Gia Lai ể lấy tiền tiêu xài cá nhân, ến nay mất khả năng thanh toán ( ã quá hạn trả nợ gốc và lãi) hoặc T tiếp tục ký hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất này cho nhiều người khác ể cấn trừ các khoản tiền T ã vay trư c ó. Như vậy, Hà Th T ã lừa ảo chiếm oạt của 04

hại v i tổng số 18 thủa ất trên a àn huyện C theo kết quả nh giá là 4.076.908.280 ồng (Bốn tỷ không trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm lẻ tám ngàn hai trăm tám mươi đồng)

Cụ thể như sau:

1. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của vợ chồng ông Rah-Lan H (sinh năm: 1961; trú tại: Làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) như sau:

Do có mối quan hệ quen iết từ trư c, nên vào khoảng năm 2013- 2014, Hà Th T gặp ông Rah Lan H và hỏi ông H là có ìa ỏ ất không, có muốn vay tiền không. Ông H nói ã thế chấp ìa ỏ vay tiền ngân hàng rồi. Thì T nói ể T trả tiền ngân hàng cho ông H rồi lấy ìa ỏ ra cho T mượn, rồi ông H muốn vay ao nhiêu tiền thì T cũng cho vay. Ông H nghe vậy thì ồng ý.

Ngày 16/03/2013, vợ chồng ông à Rơ Lan H - S thế chấp 01 GCNQSDĐ số Q174035 (có 03 thửa ất gồm: Thửa ất số 76, 85, tờ ản ồ số 29 và thửa ất số 57, tờ ản ồ số 32) vay 100 triệu ồng tại Ngân hàng S Chi nhánh huyện C, tỉnh Gia Lai. Hà Th T ã ặt vấn ề v i ông H là ể T trả khoản nợ vay ngân hàng nêu trên giúp ông H rồi T mượn GCNQSDĐ số Q174035 này của ông H trong thời gian 02 năm. Ông H ồng ý. H ên thỏa thuận miệng là ông H cho T mượn GCNQSDĐ số Q174035 trong thời gian 02 năm (từ năm 2014 ến 2016) và T không ược tẩy xóa, thay ổi tên vợ chồng ông H trên GCNQSDĐ số Q174035 và sau 02 năm, T phải trả lại GCNQSDĐ số Q174035 cho ông H và ông H trả lại tiền cho T. T ã cho ông H mượn tiền nhiều lần v i tổng số tiền là 400.000.000 (bốn trăm triệu đồng).

Mặc dù ã thỏa thuận như trên nhưng sau khi nhận GCNQSDĐ số Q174035, Hà Th T ã yêu cầu vợ chồng H ký hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất của vợ chồng H ghi trên GCNQSDĐ số Q174035 sang cho Hà Th T và Lê Văn C (C là chồng cũ của T, ã ly hôn năm 2012). T nói v i ông H là cho mượn ìa thì phải ký tên, nếu không ký thì mất ất nên vợ chồng ông à H- S ã tin tưởng ồng ý ký tên mà không kiểm tra nên không iết nội dung hợp ồng này là sang nhượng quyền sử dụng 03 thửa ất ghi trên GCNQSDĐ số Q174035 của vợ chồng ông H sang cho T và C. Hợp ồng này ược Văn phòng Công chứng huyện C công chứng vào ngày 20/3/2014.

Ngày 04/4/2014, T ã thế chấp GCNQSDĐ số Q174035 ể vay tiền tại Ngân hàng TMCP Y Việt Nam (Y) Chi nhánh C số tiền 1.000.000.000 (một tỷ đồng). Ngày 25/03/2016, T ã thanh toán khoản vay này và ăng ký xóa thế chấp ằng quyền sử dụng ất trên.

Từ ngày 25/03/2016 ến ngày 01/4/2016, T làm thủ tục cấp ổi GCNQSDĐ số Q174035 và ược Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai cấp ổi thành 03 GCNQSDĐ số CD 626327; CD 626328 và CD 626329 ứng tên Hà Th T- Lê Văn C.

Ngày 06/4/2016, T sử dụng 03 GCNQSDĐ số CD 626327;CD 626328; CD 626329 ể thế chấp tại Ngân hàng X chi nhánh Nam Gia Lai vay số tiền 1.250.000.000 (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng). Đến ngày 05/7/2017, số tiền vay trên ã quá hạn trả gốc theo thông áo của Ngân hàng X Chi nhánh Nam Gia Lai cho ến nay.

- Ngoài ra, ngày 22/01/2015, UBND huyện C ký cấp 02 GCNQSDĐ số BX 418078 và BX 418079 cho vợ chồng ông à H - S ối v i thửa ất số 11, 13, tờ ản ồ số 52, tại làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. T ã ặt vấn ề thỏa thuận cho ông H mượn tiền và ông H cho T mượn 02 GCNQSDĐ số BX 418078 và BX 418079 này trong thời gian 02 năm (từ 2015 ến 2017); sau 02 năm, T phải trả lại GCNQSDĐ số BX 418078 và BX 418079 cho ông H và ông H phải trả lại tiền cho T. Ông H ồng ý. T ã cho ông H mượn tiền nhiều lần v i tổng số tiền là 300.000.000 (ba trăm triệu đồng). Sau ó, T ã nhận 02 GCNQSDĐ số BX 418078; BX 418079 của vợ chồng ông H và tiếp tục lừa vợ chồng H là cho mượn ìa thì ký tên, không ký thì mất ất. Tin tưởng T, vợ chồng ông H ã ký tên trên hợp ồng sang nhượng quyền sử dụng 02 thửa ất của vợ chồng ông H ghi trên GCNQSDĐ số BX 418078 và BX 418079 sang cho Hà Th T- Lê Văn C mà không iết nội dung hợp ồng này là sang nhượng quyền sử dụng 02 thửa ất trên GCNQSDĐ số BX 418078 và BX 418079 sang cho T và C.

Ngày 05/02/2015,T thế chấp quyền sử dụng ất cùng 02 GCNQSDĐ số BX 418078 và BX 418079 tại Ngân hàng Y chi nhánh C vay số tiền 1.000.000.000 (một tỷ đồng).

Ngày 31/12/2015, T trả nợ cho Ngân hàng Y Chi nhánh C, xóa thế chấp và tiếp tục thế chấp quyền sử dụng ất cùng 02 GCNQSDĐ số BX 418078 và BX 418079 tại Ngân hàng X Nam Gia Lai chi nhánh C vay số tiền 1.230.000.000 (một tỷ hai trăm ba mươi triệu đồng). Đến ngày 26/4/2016, T trả nợ cho Ngân hàng BVDV Nam Gia Lai chi nhánh C.

Ngày 21/4/2017,T thành lập Công ty TNHH T (do T làm Giám ốc), sau ó ến ngày 27/4/2017, v i tư cách là Giám ốc Công ty TNHH T, T vay tiền tại Ngân hàng TMCP A Chi nhánh Gia Lai v i số tiền 1.600.000.000 (một tỷ sáu trăm triệu đồng), thế chấp 02 GCNQSDĐ số BX 418078 và BX 418079. Đến ngày 18/5/2018 khoản vay này tại Ngân hàng TMCP A Gia Lai ã quá hạn trả nợ gốc và lãi cho ến nay.

Đến năm 2017, khi T không trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng X chi nhánh Nam Gia Lai ( ối v i các hợp ồng thế chấp GCNQSDĐ mang tên T- C trên các lô ất của ông H) thì ông Nguyễn Tiến P - lúc ó là Giám ốc phòng Giao d ch Ngân hàng X Nam Gia Lai Chi nhánh C ã ến các lô ất mà T thế chấp vay tiền ể tìm hiểu, thì gặp ông Phan Văn H, ông H cho iết ất này thực tế là của ông Rah Lan H chứ không phải ất của Hà Th T, thì ông Phú ến a chính xã ể hỏi về việc tại sao ất của H ang quản lý sử dụng mà Hà Th T lại ứng tên trên GCNQSDĐ, thì ược a chính trả lời là GCNQSDĐ của T có thể là giấy giả. Do vậy, ông Phú ã gọi iện thoại cho ông H ể hỏi lại và ề ngh ông H gửi ơn lên Công an ể ược giải quyết. Sau khi ông H phát hiện ã Hà Th T lừa ký hợp ồng sang nhượng các lô ất, ông H ã gặp T yêu cầu trả lại các Giấy CNQSDĐ nêu trên thì T hứa sẽ trả lại, nhưng T không thực hiện. Nên ông H tố cáo T.

Quá trình iều tra xác minh trư c khi khởi tố thì T ã thừa nhận là T ã có hành vi lợi dụng sự kém hiểu iết của vợ chồng ông H ể yêu cầu vợ chồng ông H ký tên vào các hợp ồng sang nhượng ất tại Phòng Công chứng huyện C, T không cho vợ chồng ông H iết nội dung hợp ồng là gì, Công chứng viên cũng không ọc, không giải thích gì cho vợ chồng ông H iết về nội dung công chứng sang nhượng ất ai nên vợ chồng ông H hoàn toàn không iết việc T ã lừa họ, không iết việc T sang tên cho T và C ứng tên trên các GCNQSD ất của vợ chồng ông H và họ cũng không iết T thế chấp các GCNQSDĐ này vay tiền ngân hàng. Lời khai này phù hợp v i lời khai của vợ chồng H trong suốt quá trình iều tra. T trình ày là T thành khẩn khai áo ể ược khoan hồng, không xử lý hình sự và xin khắc phục hậu quả, tự thương lượng v i ông H.

Tuy nhiên, sau khi khởi tố, Hà Th T ã thay ổi lời khai là ông H ồng ý ký tên sang nhượng QSDĐ cho T ứng tên trên các Giấy CNQSDĐ ể thế chấp vay tiền ngân hàng .

Đối v i 05 thửa ất nêu trên của ông Rơ Lan H, từ trư c ến nay gia ình ông vẫn quản lý, sử dụng ình thường, riêng thửa ất số 11, tờ ản ồ số 52, diện tích 21.002,6m2 theo Giấy CNQSDĐ số BX 418079 ông H ã cho ông Nguyễn Bắc Tiến thuê ất trồng cà phê và tiêu từ năm 2009 ến nay.

Tại Kết luận nh giá số 1057/HĐĐG-KL ngày 24/4/2020 của Hội ồng nh giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai xác nh các lô ất của ông Rah Lan H ghi trên các GCNQSDĐ các số CD 626327; CD 626328; CD 626329 tại thời iểm tháng 3/2014; các GCNQSDĐ số BX 418078 số BX 418079 tại thời iểm 01/2025 có giá tr thành tiền theo giá th trường là: 2.047.894.082 ồng (hai tỷ không trăm bốn mươi bảy triệu tám trăm chín mươi tư ngàn, không trăm tám mươi hai đồng).

2. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của B (sinh năm 1984, trú tại: Làng S, xã IaHlốp, huyện C, tỉnh Gia Lai) như sau:

B là con trai của ông Rah Lan H. Vào khoảng năm 2009, khi anh B cư i ch R (trú tại làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) làm vợ thì à ngoại của ch Yên cho vợ chồng anh B thửa ất có diện tích gần 1,3 ha tại làng V, xã IK, huyện C, tỉnh Gia Lai (chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng ất). Anh B ã trồng cà phê, tiêu trên diện tích ất này. Tháng 07/2010, anh B cho các ông Nguyễn Xuân Tương, Đào Văn T và Nguyễn Bắc Tiến ( ều trú tại th trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai) thuê ất trồng cây cà phê, thời hạn thuê từ tháng 10/2011 ến tháng 12/2020. Hiện những người này vẫn ang canh tác ổn nh, không tranh chấp gì.

Năm 2014, vợ chồng anh B không chung sống v i nhau nữa và có thỏa thuận như sau: Anh B nhận thửa ất tại làng V, xã IK, huyện C, tỉnh Gia Lai nêu trên; còn ch R nhận nhà ang ở và ất ruộng tại làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai.Việc phân chia này ược phía gia ình ch Yên tham gia và ồng ý ( theo phong tục người ồng ào dân tộc thiểu số).

Cuối năm 2014, ông Rah Lan H có nhờ Hà Th T làm giấy chứng nhận quyền sử dụng ất tại huyện C, tỉnh Gia Lai v i diện tích là 12.443m2 cho con trai là anh B. Thời gian này, T có cho ông H mượn số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) và ông H khai T có ưa cho ông H 01 tờ giấy trắng không ghi nội dung ảo ông H ký và ghi họ tên ở cuối trang. Ông H nghĩ ký giấy mượn tiền nên ký. Sau ó, T tự viết nội dung là giấy sang nhượng ất rẫy ề ngày 02/5/2007 v i giá tiền 100 triệu ồng nhưng không thể hiện a chỉ thửa ất ở âu. Sau óToan ã sử dụng tờ giấy sang nhượng ất viết tay này ể làm Đơn ăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất ứng tên Hà Th T và Lê Văn C trên thửa ất thực tế thuộc quyền sử dụng của B. Quá trình làm ơn xin cấp GCNQSDĐ, Hà Th T ã yêu cầu ông H dẫn T và cán ộ o ạc ến thửa ất ể o ạc. Do ông H nghĩ rằng o ạc ất ể làm GCNQSDĐ cho anh B như ông H ã nhờ T nên ã ồng ý dẫn i chỉ ất. Khi T nộp hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ, các cán ộ a chính xã, chủ t ch xã, cán ộ Văn phòng ăng ký quyền sử dụng ất huyện C không kiểm tra chặt chẽ theo quy nh chỉ căn cứ vào Đơn xin cấp GCNQSDĐ và Giấy án ất viết tay giữa Hà Th T và Ra Lah H, ã xét duyệt hồ sơ là ủ iều kiện cấp GCNQSDĐ và UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số BX 418530 ngày 12/02/2014 cho Lê Văn C và Hà Th T ối v i thửa ất số 10, 11; tờ ản ồ số 66; diện tích là 12.443m2; a chỉ thửa ất: Làng V, xã IK, huyện C, tỉnh Gia Lai.

Sau ó T ã thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất trên ể vay tiền tại Ngân hàng TMCP A Chi nhánh Gia Lai - Phòng giao d ch C v i số tiền là 500.000.000 (năm trăm triệu đồng). Đến ngày 07/03/2018, Hà Th T ã nợ quá hạn tiền vay gốc và lãi ến nay.

Đối v i thửa ất này, năm 2017, ông H ược 1 người xưng là cán ộ ngân hàng gọi iện ể hỏi lô ất này là của ai, ã án cho T như thế nào thì lúc này ông H m i iết T ã làm thủ tục ứng tên Hà Th T - Lê Văn C là chủ sử dụng ối v i thửa ất tại làng V, xã IK, huyện C, tỉnh Gia Lai của anh B và ang ược thế chấp vay tiền tại Ngân hàng. Ông H gọi iện thoại cho T yêu cầu trả lại GCNQSDĐ sang úng tên cho B, T hứa hẹn trả nhưng không trả. Tháng 05/2018 anh B làm ơn tố cáo Hà Th T lừa ảo chiếm oạt tài sản của anh.

Đối v i các thửa ất này, anh B ã cho các ông Nguyễn Bắc Tiến, Ngô Văn Đại và Đào Văn T thuê ất ể trồng cà phê và tiêu từ năm 2010 ến nay.

Tại Kết luận nh giá tài sản số 1057/HĐĐG-KL ngày 24/4/2020 của Hội ồng nh giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai xác nh: Thửa ất số 10, 11, tờ ản ồ số 66 tại làng V, xã IK, huyện C, tỉnh Gia Lai, v i diện tích là 12.443 m2 ất trồng cây lâu năm tại thời iểm tháng 02/2015 có giá tr thành tiền theo giá th trường là 174.202.000đ.

Quá trình iều tra xác minh, trư c khi khởi tố, Hà Th T thừa nhận là do thửa ất này chưa có giấy CNQSDĐ nên T mượn ất của ông H và chủ ộng làm các thủ tục xin câp Giấy CNQSDĐ ứng tên T và C. T thừa nhận: T ã tự viết Giấy sang nhượng ất nội dung là ông H án ất cho T và ảo ông H ký. Bản thân ông H không hiểu iết pháp luật, tin tưởng T, ông H không hề án ất cho T, không iết T làm Giấy CNQSDĐ ứng tên T- C, không iết T dùng Giấy CNQSDĐ này thế chấp ngân hàng vay tiền, T nhận thức ược việc làm của T là trái pháp luật và xin khắc phục hậu quả.

Tuy nhiên, sau khi khởi tố, T thay ổi lời khai là T và ông H thỏa thuận ể cho T ứng tên trên GCNQSDĐ giúp cho ông H ể thế chấp vay tiền ngân hàng. Ông H ký vào giấy án ất cho T ể hợp thức hóa thủ tục giấy tờ ể T ứng tên trên Giấy CNQSDĐ ể vay tiền về xài cùng ( H vay 70 triệu, còn lại T vay 440 triệu ồng)

3. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Siu C (sinh năm 1959, trú tại làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) như sau:

Ông Siu C và vợ là Siu H là cha mẹ vợ của ông Rah Lan H. Vợ chồng ông Siu C có 07 thửa ất tại làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai ược cấp GCNQSDĐ số Q174016 ngày 20/11/1999 do à Siu H ứng tên trên các thửa ất sau:

Thửa số 75, 77 tờ ản ồ số 29, diện tích 10.689 m2 ất nông nghiệp

Thửa ất số 37 , tờ ản ồ số 29, diện tích 3.313 m2 ất nông nghiệp

Thửa ất số 78, 131, 132 tờ ản ồ số 29, diện tích 13.111m2 ất nông nghiệp

Thửa ất số 1a, tờ ản ồ số 32, diện tích 1.407 m2, trong ó có 400m2 ất ở và 1.007m2 ất nông nghiệp.

Sau khi à Siu H chết, ông Siu C có nhu cầu tặng cho các thửa ất trên cho vợ chồng cháu gái là anh Rơ Lan C và ch Siu H nên ông Siu C ưa GCNQSDĐ số Q174016 nêu trên cho gia ình ông H giữ ể làm thủ tục chuyển quyền sử dụng ất cho vợ chồng Siu H- Rơ Lan C.

Khoảng năm 2014, ông Rah Lan H (cha của Siu H, cũng là hại trong vụ án này) ã nhờ Hà Th T làm thủ tục chuyển quyền sử dụng các thửa ất trên của ông à Siu C- Siu H sang cho vợ chồng Rơ Lan C - Siu H thì T ồng ý. Sau ó T ã cùng ông H, ông Siu C và vợ chồng C- H ến Văn phòng công chứng huyện C ể làm thủ tục chuyển quyền sử dụng ất, nhưng Công chứng viên giải thích phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng ất từ ông Siu C sang cho vợ chồng ông H- à S, sau ó m i chuyển từ vợ chồng ông H sang cho vợ chồng anh ch C- H, nên mọi người ra về. Tại ây, T nói ông H ưa GCNQSDĐ số Q174016 ngày 20/11/1999 ứng tên à Siu H (vợ của ông Siu C) cho T ể làm thủ tục giúp cho và ông H ồng ý.

Tuy nhiên, tháng 03 và 04/2014, Hà Th T ã dùng thủ oạn gian dối, làm các thủ tục, hồ sơ thừa kế quyền sử dụng toàn ộ 07 thửa ất trên cho ông Siu C rồi sau ó chuyển nhượng quyền sử dụng ất của ông Siu C sang cho vợ chồng em gái T (Hà Hồng H- Vũ Đức H), do T nhờ ứng tên trên GCNQSDĐ ể thế chấp vay tiền ngân hàng giúp T, mà ông Siu C và gia ình ông H không ai hay iết.

Bản thân Hà Th T không khai nhận hành vi phạm tội, nhưng căn cứ vào các tài liệu chứng từ có trong hồ sơ và lời khai của người hại, những người liên quan và nhân chứng thì hành vi của T thể hiện như sau: Vào thời gian tháng 3/2014, T và một người àn ông (không xác nh ược họ tên a chỉ) ến nhà ông H tại làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai và ảo à S (là vợ ông H) gọi ông Siu C qua nhà ông H ể ký giấy tờ (lúc này không có ông H ở nhà). T và người àn ông i cùng không giải thích cho à S và ông Siu C iết nội dung các giấy tờ mà chỉ yêu cầu à S và ông Siu C iểm chỉ. Do không iết chữ nên ông Siu C và à S tưởng iểm chỉ ể chuyển quyền sử dụng ất cho vợ chồng Rah Lan C và Siu H như gia ình họ ã nhờ T nên họ ã ồng ý làm theo. Lúc này, anh Rah Mah R (sinh năm 1972, trú tại làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, là em rể ông H) i ngang qua nhà ông H thì T gọi anh R vào nhà ông H và nhờ anh R ký một số giấy tờ. Lúc ầu anh R không ồng ý nhưng T nói ký i không sao âu thì anh R ồng ý. Người àn ông i cùng T ã chỉ cho anh R ký vào các giấy tờ và ghi chữ ra giấy rồi nói anh R nhìn viết theo. Người àn ông hỏi mượn chứng minh nhân dân của anh R, sau ó trả lại. Anh R không iết ọc nên không hiểu nội dung trong các giấy tờ anh R ã ký, cũng không ai giải thích nội dung cho anh R. Sau khi ký thì người àn ông cho anh R iếu thuốc và anh R i về.

Về a iểm công chứng, qua lời khai của à S, ông Siu C và anh R là ược lập tại nhà ông H. Tuy nhiên, ản thân T không thừa nhận, không khai áo, còn ối tượng i cùng T thì ông Siu C, à S và anh R không nh ể cho nhận dạng. Hợp ồng chuyển nhượng thể hiện ghi tại Văn phòng Công chứng, ản thân chấp hành viên khai công chứng tại văn phòng. Kết quả ối chất các ông, à, hại, nhân chứng, công chứng viên ều giữ nguyên lời khai của mình.

Về hành vi làm Hợp ồng sang nhượng ất: Hà Th H- em gái T khai: T gọi iện thoại ảo H ến Văn phòng công chứng huyện C ể ký tên vào hợp ồng chuyển nhượng, H là người ký ầu tiên vào hợp ồng. Riêng Vũ Đức H thì không ký tên vào 04 ản hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất từ ông Siu C cho vợ chồng H ( ến nay cũng không xác nh ược ai là người ã giả chữ ký của H vì T không khai sự thật, kết quả giám nh cũng xác nh không phải chữ ký của H). H khai không iết các thửa ất T nhờ ứng tên ở âu, T nói ất của T, nhưng do T nợ xấu ngân hàng nên T nhờ H ứng tên dùm ể vay ngân hàng.

Qua iều tra xác nh, ông Siu C và à S iểm chỉ vào Văn ản phân chia di sản thừa kế, v i nội dung: à S ồng ý tặng cho toàn ộ phần di sản thừa kế (do mẹ là à Siu H ể lại cho con là à S) cho ông Siu C; còn anh R là người ã ký tên là người làm chứng trong Văn ản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế theo pháp luật v i nội dung à S (là con của à Siu H) ồng ý tặng cho ông Siu C toàn ộ di sản thừa kế và làm chứng trong 04 hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất của Siu C cho Hà Hồng H- Vũ Đức H. Các văn ản này có chữ ký của Công chứng viên Lê Thanh Q- Văn phòng công chứng C thực hiện công chứng; T trực tiếp nộp tiền thuế làm hồ sơ thừa kế của ông Siu C và chuyển nhượng quyền sử dụng ất của ông Siu C cho Hà Hồng H-Vũ Đức H.

Đến ngày 24/4/2014, T nhờ vợ chồng H- H ký các hợp ồng thế chấp quyền sử dụng ất và GCNQSDĐ ối v i 07 thửa ất nêu trên ể vay số tiền 1.100.000.000 (một tỷ một trăm triệu đồng) tại Ngân hàng Y Chi nhánh C giúp cho T. Lúc này thì Vũ Đức H m i iết là mình ứng tên trên GCNQSDĐ và ồng ý ký tên trên các hợp ồng vay vì nghĩ là ất của T, do T ang nợ xấu ngân hàng không vay tiền ược nên nhờ vợ chồng H- H ứng tên. T là người sử dụng tiền vay và thực hiện trả lãi vay hàng tháng tại ngân hàng v i danh nghĩa tên Hà Hồng H.

Ngày 07/4/2015, T trả tiền gốc 1.100.000.000 (một tỷ một trăm triệu đồng) và làm thủ tục vay lại số tiền 1.100.000.000 (một tỷ một trăm triệu đồng).

Đến năm 2016, T không có khả năng trả nợ, Ngân hàng Y Chi nhánh C òi phát mãi tài sản. Lúc này T m i nói cho ông H iết sự thật và ảo ông H i tìm người trả tiền vay dùm T và sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng ất lại cho người trả nợ thay ó, sau ó vay lại tiền ngân hàng thì m i giữ lại ất của ông Siu C ược. Nghe vậy, ông H ã nhờ ông Phan Văn H trú tại làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai ến gặp T ể àn ạc tháo gỡ. Vì cũng có quen biết trư c v i nhau, T ã nhờ ông H ứng nhận nợ, làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng ất từ Hà Hồng H- Vũ Đức H ang thế chấp tại ngân hàng phát mãi tài sản sang cho ông Phan Văn H và làm thủ tục vay lại. T hứa sẽ làm thủ tục vay tiền tại Ngân hàng TMCP A Chi nhánh Gia Lai trả cho ông H và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng ất làm thủ tục trả lại cho ông Siu C. Ông H muốn giúp ông H và tin tưởng T có khả năng vay tiền ngân hàng trả nợ nên ông H ồng ý. Do vậy, T dẫn ông H và ông H liên hệ người cho vay tiền ể vay số tiền 1.160.000.000 (một tỷ một trăm sáu mươi triệu đồng) trả nợ cho Ngân hàng Y Chi nhánh C.

Sau khi trả nợ gốc, T ã liên hệ ể Ngân hàng Y Chi nhánh C ể làm các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng 07 thửa ất nêu trên từ tên Hà Hồng H-Vũ Đức H sang cho ông Phan Văn H. Sau ó ông H ược Sở TN-MT tỉnh Gia Lai cấp 07 GCNQSDĐ ối v i 07 thửa ất này, ao gồm: GCNQSDĐ số CI 345748 , CI 345749, CI 345750, CI 345751, CI 345752, CI 345753 và CI 345754 và T liên hệ làm thủ tục thế chấp ngân hàng Y Chi nhánh Gia Lai-Phòng giao d ch C 07 GCNQSDĐ này ể ông H vay lại số tiền 1.250.000.000 (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng)

Số tiền vay trên ông H cùng T trả lại tiền vay ngoài 1.160.000.000 và tiền lãi; trả 50.000.000 (năm mươi triệu đồng) tiền án phí, chi phí làm hồ sơ vay. Ông H không sử dụng số tiền trên.

Do ông H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng như cam kết, nên ngày 28/11/2018 Ngân hàng Y Chi nhánh Gia Lai ã khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện C yêu cầu Tòa án giải quyết uộc ông H phải trả số nợ gốc 1.250.000.000 ồng và tiền lãi ến ngày 27/11/2018 là 40.130.137 và lãi phát sinh ến ngày Tòa giải quyết. Trường hợp không trả ược nợ thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp ể thu hồi nợ.

Ngày 25/01/2019, Tòa án nhân dân huyện C ã an hành Quyết nh số 03/2019/QĐST-DS Quyết nh công nhận sự thỏa thuận của các ương sự v i nội dung: Ông Phan Văn H công nhận có nợ và có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Y Việt Nam, Chi nhánh Gia Lai tổng số tiền là 1.306,054,795 (trong ó nợ gốc là 1.250.000.000 , lãi là 56.054.795 ). Trường hợp ông H không thanh toán hoặc thanh toán không ầy ủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp ể thu hồi nợ.

Ngày 26/3/2019, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai ra Quyết nh trưng cầu giám nh số 90/PC03 giám nh chữ viết, chữ ký của Vũ Đức H trên 04 hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất của ông Siu C cho Hà Hồng H -Vũ Đức H. Ngày 04/4/2019, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai có Kết luận giám nh số 289/KLGĐ xác nh chữ ký và chữ viết “Vũ Đức H” trên 04 hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất của ông Siu C cho Hà Hồng H-Vũ Đức H không phải do Vũ Đức H ký, viết ra.

Tại Kết luận nh giá tài sản số 1057/HĐĐG-KL ngày 24/4/2020, Hội ồng nh giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai có xác nh: 07 thửa ất gồm số: 75, 77, 37 , 78, 131, 132 thuộc tờ ản ồ số 29 và thửa ất số 1a thuộc tờ ản ồ số 32 có tổng diện tích các thửa ất là 28.520 m2 (trong ó có 400 m2 ất ở thuộc thửa ất số 1a, còn lại là ất màu, ất vườn, cà phê) tại thời iểm tháng 4/2014 có giá tr thành tiền theo giá th trường là: 1.114.011.535đ.

Quá trình iều tra, T khai T có thỏa thuận v i ông H về việc T mượn GCNQSDĐ của ông Siu C trong thời hạn 02 năm ể T vay tiền ngân hàng. Nhưng ông H khai hoàn toàn không có thỏa thuận ó, mà chỉ là nhờ T làm thủ tục ể chuyển tên cho vợ chồng con gái của ông H và ã T lừa ảo chiếm oạt.

Đối v i các thửa ất nêu trên, theo phong tục tập quán của người Jrai thì sau khi à Siu H rú chết thì giao lại toàn ộ ất ai cho con gái là à S

(vợ ông H) quản lý, sử dụng. Hiện nay, gia ình ông H ang quản lý sử dụng 03 thửa; còn lại các thửa sau ây ã chuyển nhượng cho người khác nhưng chỉ viết tay việc sang nhượng chưa làm thủ tục sang tên:

- Năm 2011 viết giấy tay sang nhượng cho ông Trần Đình T trú tại 24 B, Lê Lợi, th trấn C, huyện C thửa ất số 37 , tờ ản ồ số 29, diện tích 3.312m2. Ông T ang quản lý sử dụng trồng cà phê; chưa làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ.

- Năm 2009, anh B (con trai ông H) ã viết giấy tay sang nhượng 2 thửa ất số 78 và 131 tờ ản ồ số 29 cho ông Nguyễn Đức D trú tại Làng S, xã I, C. Sau ó ông D ã sang nhượng lại cho ông Phạm Viết B, trú tại Làng S, xã I, C. Hiện ông B ang quản lý, sử dụng trồng tiêu và cà phê; chưa làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ .

- Năm 2013, ông Siu C ã viết giấy tay sang nhượng thửa ất số 132, tờ ản ồ số 29, diện tích 6.875 m2 cho anh Rơ Mah H trú tại Làng S, xã I, C; chưa làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ.

- Thửa ất số 01, tờ ản ồ số 32, diện tích 1.407 m2: Rah Lan H ang quản lý, sử dụng.

4. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của vợ chồng ông Rah Lan T (Sinh năm: 1944; trú tại: làng S, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) như sau:

Ông Rah Lan T có 01 GCNQSDĐ ã cũ số Q174083 cấp ngày 22/11/1999 gồm 04 thửa ất:

- Thửa ất số 55 (tách ra từ thửa số 41), tờ ản ồ số 52, diện tích 4.444m2 ( ất ở 200m2).

- Thửa ất số 52a (sau khi o ạc ánh số m i là thửa 141), tờ ản ồ số 29, diện tích 677m2.

- Thửa ất số 53, tờ bản ồ số 29, diện tích 1.474m2.

- Thửa ất số 08, tờ ản ồ số 32, diện tích 1.310m2.

Năm 2015, thông qua ông Rah Lan H, ông T iết và nhờ Hà Th T làm thủ tục ể cấp m i lại GCNQSDĐ cho mình, ông T ưa cho T GCNQSDĐ số Q174083 cấp ngày 22/11/1999, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia ình của ông T. Sau khi có GCNQSDĐ của ông T, T ã yêu cầu vợ chồng ông T ến Văn phòng Công chứng huyện C ể ký tên làm thủ tục thì vợ chồng ông T ồng ý vì nghĩ là ký ể làm thủ tục cấp GCNQSDĐ m i cho mình. Do vợ chồng ông T không iết chữ nên T nhờ ông Siu H là cán ộ làm việc tại Phòng TN&MT huyện C ký tên là người làm chứng trong hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất từ vợ chồng ông Rah Lan T cho Hà Th T- Lê Văn C. Ông H ồng ý và chỉ ký tên chứ không iết sự việc chuyển nhượng quyền sử dụng ất giữa ông T và T. Sau ó T cho ông H 100.000 (một trăm ngàn đồng). Khi vợ chồng T ký, iểm chỉ thì không ược nghe ọc, không ược giải thích nội dung nên vợ chồng T không iết là ã vào ký hợp ồng có nội dung chuyển nhượng quyền sử dụng ất của mình cho Hà Th T- Lê Văn C. Hợp ồng này do Công chứng viên Đỗ Mạnh C thuộc Văn phòng Công chứng huyện C công chứng vào ngày 28/5/2015. C khai là có ọc, có giải thích.

Sau khi ký hợp ồng sang nhượng quyền sử dụng ất, T ã nộp hồ sơ và làm thủ tục ăng ký cấp GCNQSDĐ cho Hà Th T- Lê Văn C. Ngày 27/8/2015, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai ã cấp 04 GCNQSDĐ các số CA984930, CA 984931, CA 984932, CA 984933 cho Hà Th T- Lê Văn C.

Ngày 31/5/2017, T ã chuyển nhượng quyền sử dụng ất trên 02 GCNQSDĐ số CA 984931, CA 984932 cho vợ chồng ông Lâm Vĩnh H- à Phan Th H ở huyện C, tỉnh Gia Lai ể cấn trừ số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu đồng) T ã vay trư c ó. Bà H ã làm thủ tục sang tên trên 02 GCNQSDĐ số CA 984931, CA 984932.

Ngày 19/7/2017, T tiếp tục ký hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất ghi trên GCNQSDĐ số CA 984933 cho vợ chồng ông Huỳnh Công T- à Huỳnh Th Chí T ở, tỉnh Gia Lai ể cấn trừ số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu đồng) T ã vay của ông T trư c ó. Trong thời gian ông T nộp hồ sơ ến Văn phòng ăng ký quyền sử dụng ất chi nhánh huyện C làm thủ tục sang tên trên GCNQSDĐ số CA 984933 thì T ã ến gặp ch Nguyễn Th Ý – nhân viên Văn phòng ăng ký quyền sử dụng ất huyện C (nay là Văn phòng ăng ký ất ai Chi nhánh huyện C) ể mượn lại GCNQSDĐ số CA 984933 v i lý do là ể kê khai thuế. Ch Ý ồng ý. Nhưng sau ó T nói ã thất lạc rồi T ã làm ơn áo mất GCNQSDĐ số CA 984933. Văn phòng ăng ký quyền sử dụng ất C ra thông áo mất GCNQSDĐ số CA 984933, sau 30 ngày nếu không tìm lại ược GCNQSDĐ ã mất hoặc không có tranh chấp gì về lô ất này thì sẽ làm thủ tục sang tên cho ông T- à T.

Tuy nhiên, ngày 05/9/2017, T tiếp tục ký hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất GCNQSDĐ số CA 984933 cho à Hoàng Th S v i số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu đồng). Khi à S nộp hồ sơ ể sang tên trên GCNQSDĐ thì Văn phòng ăng ký ất ai huyện C thông áo cho à S iết là GCNQSDĐ số CA984933 ã ược chuyển nhượng cho Huỳnh Công T nên không làm thủ tục cho à S ược.

Khi iết việc này, ông T ã làm ơn trình áo gửi UBND huyện C, sau ó sự việc ược chuyển qua cho Công an huyện C giải quyết. Ông T ã khởi kiện dân sự ối v i T số tiền nợ ra Tòa án nhân dân huyện C .

Đối v i GCNQSDĐ số CA 984933 hiện nay à S vẫn còn giữ không giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai. Còn lại 01 GCNQSDĐ số CA984930, T khai ã làm thất lạc, ến nay không iết GCNQSDĐ này ang ở âu.

Đối v i 04 thửa ất của ông Rơ Lan T hầu hết ều do gia ình ông quản lý sử dụng; ông T chỉ sang nhượng cho ông Nguyễn Tư 1000 m2 ất trồng cây lâu năm trên thửa ất số 41, tờ ản ồ số 32; sau ó vào năm 2014, ông Tư sang nhượng lại cho ông Nguyễn Văn B trú tại xã I, huyện C quản lý, sử dụng cho ến nay. Việc sang nhượng viết tay, chưa làm thủ tục sang tên.

Tại Kết luận nh giá tài sản số 1057/HDĐG-KL ngày 24/4/2020 Hội ồng nh giá trong Tố tụng hình sự tỉnh Gia Lai ã nh giá tr 04 mảnh ất của ông Rah Lan T ghi trên 04 GCNQSDĐ các số CA984930, CA 984931, CA 984932, CA 984933 tại thời iểm tháng 8/2015 có giá tr thành tiền theo giá th trường là: 358.800.663đ.

Quá trình iều tra, ông T khai ông không án ất cho T, không cho T mượn ìa, mà chỉ nhờ T làm lại GCNQSDĐ. Trư c khi khởi tố, T khai là T cho ông T vay 100 triệu ồng và ông T cho mượn GCNQSDĐ số Q174083 và T ã lợi dụng sự kém hiểu iết của ông T ể làm thủ tục và yêu cầu vợ chồng ông T ký vào hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất của vợ chồng ông Rah Lan T cho Hà Th T- Lê Văn C ể thế chấp vay tiền ngân hàng, ông T không iết chữ nên hoàn toàn không iết ã ký vào Hợp ồng sang nhượng ất cho T- C, vì ông T chỉ nhờ T làm lại ìa ỏ m i chứ không có việc mua án ất.

Nhưng sau khi khởi tố cho ến nay, T thay ổi lời khai, T cho rằng mặc dù không mua án nhưng ông T ồng ý ký tên vào Hợp ồng sang nhượng ất ể T sang tên cho T và C trong thời hạn 02 năm thì trả lại.

5. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt 382.000.000 đồng tiền bán cây cao su trên diện tích 8,7 ha tại xã I, huyện C cho ông Ngọ Anh T (sinh năm: 1978, tỉnh Đắk Nông):

Thông qua người quen gi i thiệu, ngày 22/9/2017, anh Ngọ Anh T ã gặp Hà Th T ể hỏi mua cây cao su. T nói T có vườn vây cao su, ồng thời T dẫn anh T i xem vườn cây cao su và ưa cho T 03 GCNQSDĐ ản phô tô số BY 454672 và số AD 036362 của vợ chồng ông Nguyễn Văn K v i tổng diện tích là 60.221 m2; GCNQSDĐ của ông à Nguyễn T L-Đinh Th T v i diện tích là 27.278m2 ể chứng minh 8,7 ha cây cao su ang trồng trên ất sẽ án cho T là của T.

Sau khi thoả thuận thống nhất giá cả, anh T ồng ý ký hợp ồng mua án 8,7 ha cây cao su giá tiền là 95.000.000 /1 ha x 8,7 ha = tổng số tiền 826.000.000 (tám trăm hai mươi sáu triệu đồng), anh T ã ưa trư c cho T số tiền là 382.000.000 (ba trăm tám mươi hai triệu đồng) và thỏa thuận sau khi cắt cây xong trong thời gian 10 ngày sẽ thanh toán ầy ủ. Ngày 22/9/2017, T viết giấy tay hợp ồng án 8,7 ha vườn cây cao su tại tỉnh Gia Lai cho Ngọ Anh T và 2 ên lên xã ể xác nhận việc mua án, ược cán ộ a chính xã là Giáp T L xuống tại vườn ể xác minh, gặp 1 số người ang khai thác mũ cao su tại ây, anh L có hỏi 1 số người có phải vườn cao su này của Hà Th T và Lê Văn C không, những người này nói phải, thì anh L về trình Hợp ồng mua án cây cao su giữa T và anh T cho Chủ t ch UBND xã I huyện C ký tên óng dấu.

Về nguồn gốc thửa ất trồng cao su diện tích 60.221m2 nêu trên như sau: sau khi ly hôn, Hà Th T và Lê Văn C mua chung thửa ất này từ ông Nguyễn Văn K, sau ó án lại cho à Phạm Th M và thỏa thuận khi nào T và C có tiền thì à M sang nhượng lại cho. Do ó, vào cuối năm 2016, ch Lê Th C- là em gái của C ứng ra vay tiền trả cho à M và ược M sang nhượng lại thửa ất này cho ch C. Sau ó, ch C ã thế chấp GCNQSDĐ thửa ất này và cây cao su trên ất vay 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu đồng) tại Ngân hàng X Nam Gia Lai chi nhánh C. Vườn cây cao su vẫn do C chăm sóc.

Khi anh T ưa người vào cắt cây cao su thì Lê Văn C ngăn cản không cho cắt. Vì thời iểm này, vườn cao su mà T án cho anh Ngọ Anh T có diện tích 60.221 m2 ất có 5.500 cây cao su thuộc quyền sở hữu của Lê Th C (là em gái của Lê Văn C), ang ược thế chấp vay tiền ngân hàng. Sau ó T có gặp anh C yêu cầu ể T án cây cao su thì anh C nói T phải trả nợ ngân hàng và rút GCNQSDĐ về ể làm thủ tục phân chia tài sản rồi T m i ược án cây cao su phần của T nhưng sau ó T không thực hiện.

Còn diện tích là 27.278m2 vườn cây cao su thuộc quyền sở hữu của ch Đinh Th T( Sinh năm 1977, trú tại xã IK, C, Gia Lai), ch T không iết gì về việc T án cây cao su trên ất của mình.

Khi iết T lừa, anh T nhiều lần gọi iện hẹn gặp T ể òi lại tiền, nhưng T né tránh. Đến ngày 13/10/2017, T ồng ý gặp anh T tại C. Anh T yêu cầu T viết giấy nhận nợ số tiền 382.000.000 (ba trăm tám mươi hai triệu đồng) v i ông Phạm Văn H là người làm ăn chung v i anh T và ể tạo niềm tin cho anh T, T thế chấp cho T 03 GCNQSDĐ ( ản gốc) do UBND huyện Mang Yang cấp cho ông Phạm Văn C (sinh năm: 1975; HKTT: tỉnh Gia Lai) và 01 CMND số 230990038 của Hà Th T ( ản gốc); 01 Sổ hộ khẩu cấp cho Hà Th T ( ản gốc), T hẹn ến ngày 16/10/2017 sẽ trả hết số tiền 382.000.000 (ba trăm tám mươi hai triệu đồng) cho anh T. Nhưng ến hẹn trả tiền mà T không trả và nhiều lần hẹn không gặp ược T, không iết T ở âu nên ngày 24/4/2018, anh T làm ơn tố cáo hành vi lừa ảo chiếm oạt tài sản của T.

Quá trình iều tra, trư c khi khởi tố, T thừa nhận T án cây cao su trên 1 phần diện tích ất do Lê Th C (em ruột của anh C) ứng tên trên GCNQSDĐ và phần diện tích còn lại thuộc quyền quản lý sử dụng của vợ chồng anh L- ch T, T ưa cho ông T xem các GCNQSDĐ của ông K, ông L ể cho ông T tin tưởng và T có cam oan là vườn cao su này không có tranh chấp. Sau khi khởi tố, T cho rằng lô ất này là của T và C nhờ em gái C ứng tên dùm, còn lô ất của vợ chồng anh L- ch T ã hứa án cho T nhưng do T chưa có tiền mua nên trả lại, theo T khai lý do C không cho ông T cắt cây cà phê là do ông T không ch u thanh toán ầy ủ số tiền số tiền 826.000.000

Đối v i 03 GCNQSDĐ của anh C, anh C khai anh C có ưa cho T vay tiền ngân hàng giúp anh C. Đồng thời anh C có hứa sau khi vay ược tiền thì cho T mượn một ít ể làm ăn. Tuy nhiên, T không làm thủ tục vay tiền ngân hàng giúp anh C mà ã em 03 GCNQSDĐ trên thế chấp cho anh Ngọ Anh T. Khi thế chấp 03 GCNQSDĐ của anh C cho anh T thì anh C không iết, ến khi anh T iện thoại cho anh C thì anh C m i iết sự việc và yêu cầu T trả lại 03 GCNQSDĐ cho anh C.

Sau khi thực hiện nhiều vụ lừa ảo chiếm oạt GCNQSDĐ nêu trên, Hà Th T ã dùng các GCNQSDĐ của các hại sang tên mình, rồi thế chấp các GCNQSDĐ này ể vay tiền các ngân hàng, sử dụng mục ích cá nhân, dẫn ến mất khả năng thanh toán. Sau nhiều lần không òi nợ ược, phía ngân hàng i tìm hiểu thì m i phát hiện ra hành vi gian dối của T, liên lạc v i hại Rah Lan H ể yêu cầu ông H trình áo. Lúc ó các hại m i iết T lừa ảo nhằm chiếm oạt tài sản.

Ngày 09/6/2019, Hà Th T Cơ quan Cảnh sát iều tra Công an tỉnh Gia Lai khởi tố iều tra về tội Lừa ảo chiếm oạt tài sản.

Quá trình iều tra, trư c khi khởi tố, T thừa nhận toàn ộ hành vi phạm tội. Tuy nhiên, sau khi khởi tố, T ã phủ nhận hoàn toàn lời khai trư c.

* Qua iều tra xác nh: Đối v i 07 GCNQSĐ : số CI 345748 , CI 345749, CI 345750, CI 345751, CI 345752, CI 345753 và CI 345754 do Phan Văn H ứng tên và thế chấp ã dùng 07 GCNQSDĐ này ể thế chấp vay ngân hàng Y Chi nhánh Gia Lai- Phòng giao d ch C số tiền 1.250.000.000 (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng) ưa cho can T, sau khi ông H không trả nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng khởi kiện và ược Tòa án huyện C- tỉnh Gia Lai ra Quyết nh công nhận sự thỏa thuận giữa Ngân hàng Y Chi nhánh C và ông H là nếu ông H không trả ược nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: thực chất 07 GCNQSDĐ này là do can Hà Th T lừa ảo của ông Siu C mà có, nên 07 thửa ất này là tài sản chiếm oạt trong vụ án Hà Th T- Lừa ảo chiếm oạt tài sản và phải ược xử lý trong vụ án này. Do vậy, ngày 05/3/2021, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng ã an hành kháng ngh tái thẩm ối v i Quyết nh công nhận sự thỏa thuận của các ương sự số 03/2019/QĐST-DS ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai. Ngày 01/6/2021, Ủy an Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng ã hủy Quyết nh công nhận sự thỏa thuận của các ương sự số 03/2019/ QĐST-DS ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện C giải quyết lại theo úng quy nh.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2021/HSST ngày 22/9/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:

1. Về tội danh:

T bố b cáo Hà Th T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

- Áp dụng iểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự ; iểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015,

Xử phạt b cáo Hà Th T 19 (mười chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2018.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 122, Điều 123, Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 188 Luật Đất ai; Ngh nh 163/2006/NĐ-CP về Giao d ch bảo ảm, Xử:

3.1 T bố hợp ồng thế chấp bất ộng sản số 01/2016/8042059/HĐBĐ ngày 21/9/2016 ối v i 02 tài sản thế chấp là GCNQSDĐ số CD 626327, CD 626329 và hợp ồng thế chấp bất ộng sản số 02/2016/8042059/HĐBĐ ngày 23/9/2016 ối v i GCNQSDĐ số CD 626328 tại Ngân hàng TMCP X Việt Nam chi nhánh Nam Gia Lai; Hợp ồng thế chấp tài sản số 2733/17/TC-TT/VIII ngày 11/5/2017 ối v i 02 tài sản thế chấp là GCNQSDĐ số BX 418078; BX 418079 và Hợp ồng thế chấp số 3303/17/TC-TT/VIII.3 ngày 07/6/2017 v i tài sản thế chấp là GCNQSDĐ số BX 418530 tại Ngân hàng TMCP A chi nhánh Gia Lai; Hợp ồng thế chấp quyền sử dụng ất 18/04A/NHNT ngày 18/4/2017 v i tài sản thế chấp là 07 GCNQSDĐ số CI 345748, CI 345749, CI 345750, CI 345751, CI 345752, CI 345753, CI 345754 tại Ngân hàng TMCP Y Việt Nam chi nhánh Gia Lai – Phòng giao d ch C là vô hiệu.

- Đối v i 05 Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CD 626327; CD 626328; CD 626329 cấp cùng ngày 01/4/2016; BX 418078 và BX 418079 cấp cùng ngày 22/01/2015 ông Rah Lan H, à S có quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền ể xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo quy nh của pháp luật.

- Đối v i Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số BX 418530 cấp ngày 22/01/2015 anh B có quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền ể xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo quy nh của pháp luật.

- Đối v i 07 Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CI 345748, CI 345749, CI 345750, CI 345751, CI 345752, CI 345753 và CI 345754 cấp cùng ngày 14/4/2017 ông Siu C có quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền ể xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo quy nh của pháp luật.

3.1.1 Buộc b cáo Hà Th T liên i cùng Lê Văn C phải trả các khoản tiền vay cho các Ngân hàng sau:

- Ngân hàng TMCP X Việt Nam (thông qua chi nhánh Nam Gia Lai) số tiền 1.858.435.415 ồng (một tỷ tám trăm năm mươi tám triệu bốn trăm a mươi lăm nghìn ốn trăm mười lăm ồng). Trong ó tiền gốc là 1.250.000.000 ồng (một tỷ hai trăm năm mươi triệu ồng), lãi trong hạn 509.965.277 ồng (năm trăm lẻ chín triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn hai trăm ảy mươi ảy ồng), lãi quá hạn là 98.470.138 ồng (chín mươi tám triệu bốn trăm ảy mươi nghìn một trăm a mươi tám ồng);

- Ngân hàng TMCP A (thông qua chi nhánh Gia Lai) số tiền 2.419.894.310 ồng (hai tỷ bốn trăm mười chín triệu tám trăm chín mươi ốn nghìn a trăm mươi ồng). Trong ó tiền gốc là 1.600.000.000 ồng (một tỷ sáu trăm triệu ồng), lãi trong hạn là 73.629.808 ồng (bảy mươi a triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn tám trăm lẻ tám ồng), lãi quá hạn 746.264.502 ồng (bảy trăm ốn mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi ốn nghìn năm trăm lẻ hai ồng).

- Ngân hàng TMCP A (thông qua chi nhánh Gia Lai) số tiền 809.051.353 ồng (tám trăm lẻ chín triệu không trăm năm mươi mốt nghìn a trăm năm mươi a ồng). Trong ó tiền gốc là 500.000.000 ồng (năm trăm triệu ồng), lãi trong hạn là 13.684.931 ồng (mười ba triệu sáu trăm tám mươi ốn nghìn chín trăm a mươi mốt ồng), lãi quá hạn 295.366.422 ồng (hai trăm chín mươi lăm triệu a trăm sáu mươi sáu nghìn ốn trăm hai mươi hai ồng).

3.1.2 Buộc ông Phan Văn H trả tiền vay cho Ngân hàng TMCP Y Việt Nam (thông qua chi nhánh Gia Lai) số tiền 1.708.279.795 ồng (trong ó tiền gốc là 1.250.000.000 ồng, lãi trong hạn 367.222.603 ồng, lãi quá hạn 91.057.192 ồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Bị cáo Hà Thị T, Lê Văn C, ông Phan Văn H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Việc tính lãi và cả lãi suất nợ quá hạn đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng phải theo đúng hợp đồng đã ký kết kể từ khi giao dịch cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi tính lãi chỉ tính lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.

3.2 T bố hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất số 527 quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/7/2017 tại văn phòng công chứng C giữa Huỳnh Công T- à Huỳnh Th Chí T và Hà Th T; Hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất số 002757 quyển số 05VP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/9/2017 tại Văn Phòng công chứng Xuân Thủy giữa à Hoàng Th S và Hà th T; Hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất theo hồ sơ số 5155/2017/CM1336 và hồ sơ số 5155/2017/CM1337 ngày 31/5/2017 giữa ông Lâm Vĩnh H, à Phan Th H và Hà Th T, Lê Văn C là vô hiệu.

3.2.2 Đối v i 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CA984930, CA 984931, CA 984932 cấp cùng ngày 27/8/2015 ông Rah Lan T có quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền ể xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo quy nh của pháp luật.

3.2.3 Bà Hoàng Th S trả cho ông Rah Lan T GCNQSDĐ số CA984933 cấp ngày 27/8/2015. Khi án có hiệu lực pháp luật à S không trả GCNQSDĐ này thì ông Rah Lan T có quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo quy nh của pháp luật.

3.3 Buộc b cáo Hà Th T phải trả cho anh Ngọ Anh T số tiền 382.000.000 ( a trăm tám mươi hai triệu ồng).

3.4 Buộc ông Rah Lan H và à S trả cho b cáo Hà Th T số tiền ã mượn là 710.000.000 ( ảy trăm mười triệu ồng).

3.4 Buộc ch Siu H và anh Rơ Lan C phải trả cho b cáo Hà Th T số tiền ã mượn là 60.000.000 (sáu mươi triệu ồng).

3.5 Buộc ông Rah Lan T phải trả cho b cáo Hà Th T số tiền ã nhận là 95.000.000 (chín mươi lăm triệu ồng).

3.6 Buộc à Hà Hồng H phải trả cho ông Phan Văn H 1.160.000.000 (một tỷ một trăm sáu mươi triệu ồng).

3.7 Các khoản nợ giữa b cáo Hà Th T v i ông Lâm Vĩnh H và à Phan Th H; Ông Huỳnh Công T và à Huỳnh Th Chí T; à Hoàng Th S không liên quan ến vụ án này nên các ông, à có quyền khởi kiện òi nợ b cáo Hà Th T trong vụ án khác theo quy nh của pháp luật.

3.8 Đối v i việc chuyển nhượng, cho thuê ất của các b hại trư c khi b cáo T chiếm oạt quyền sử dụng ất không liên quan ến vụ án nên không xem xét.

4. Kiến ngh Cơ quan CSĐT tiếp tục xem xét dấu hiệu Cố ý, dấu hiệu thiếu trách nhiệm ối v i các cá nhân có thẩm quyền thực hiện thủ tục xác lập giao d ch bảo ảm tại Ngân hàng TMCP Y Việt Nam chi nhánh Gia Lai phòng giao d ch C khi biết tài sản không phải của người có tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất nhưng vẫn xác lập giao dich bảo ảm và cho vay v i số tiền l n hơn số tiền vay ã quá hạn trư c ó ến nay không thể thu hồi.

Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết nh về lãi chậm thi hành án, về phần xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo luật nh.

Ngày 27/9/2021, cáo Hà Th T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 29/9/2021, hại anh Phan Văn H kháng cáo ề ngh Tòa án cấp phúc thẩm tuyên anh không có nghĩa vụ phải trả nợ cho Ngân hàng Y số tiền 1.708.279.795 ồng.

Ngày 30/9/2021, Ngân hàng TMCP Y Việt Nam kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa ản án sơ thẩm ể công nhận Hợp ồng thế chấp quyền sử dụng ất 18/04A/NHNT ngày 18/4/2017 v i tài sản thế chấp là 07 GCNQSDĐ số CI 345748, CI 345749, CI 345750, CI 345751, CI 345752, CI 345753, CI 345754 tại Ngân hàng TMCP Y Việt Nam chi nhánh Gia Lai – Phòng giao d ch C vẫn có hiệu lực pháp luật và ỏ phần kiến ngh ối v i Ngân hàng TMCP Y Việt Nam chi nhánh Gia Lai phòng giao d ch C.

Ngày 01/10/2021, Ngân hàng TMCP A (A) kháng cáo không ồng ý v i phần dân sự của ản án sơ thẩm.

Ngày 04/10/2021, Ngân hàng TMCP X Việt Nam kháng cáo ề ngh Tòa án cấp phúc thẩm công nhận việc thế chấp tài sản ối v i quyền sử dụng ất theo các Giấy chứng nhận số CD 626327, CD 626328, CD 626329 là hợp pháp; trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm tuyên vô hiệu các hợp ồng thế chấp thì phải xác nh lỗi cáo và Văn phòng Công chứng C liên i ồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm, cáo Hà Th T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Ngân hàng TMCP Y Việt Nam, Ngân hàng TMCP X Việt Nam, Ngân hàng TMCP A giữ nguyên kháng cáo

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng ề ngh Hội ồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của cáo Hà Th T và kháng cáo của các hại anh Phan Văn H, Ngân hàng TMCP X Việt Nam, Ngân hàng TMCP A. Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Y Việt Nam; bỏ phần kiến ngh và ề ngh bổ sung việc ề ngh các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thu hồi các giấy chứng nhận quyền sử dụng ất ược cấp m i do cáo T lừa ảo.

Lời ào chữa của luật sư ào chữa cho cáo Hà Th T ề ngh Hội ồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Tại phiên tòa phúc thẩm cáo Hà Th T ã khai nhận về hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm ã xác nh. Nội dung hành vi phạm tội thể hiện từ năm 2013 ến năm 2018, do nắm ắt ược nhu cầu cần vay, mượn tiền chi tiêu sinh hoạt gia ình, cần giúp xác lập Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất (gọi tắt là GCNQSDĐ), làm các thủ tục tặng cho quyền sử dụng ất của một số hộ dân nên T ã nảy sinh ý nh chiếm oạt tài sản ằng cách ưa ra thông tin có thể cho mượn tiền không cần thế chấp chỉ cần cho cáo mượn GCNQSDĐ ể làm ăn, sau 2 năm sẽ trả lại Giấy mà người vay không phải trả tiền, ưa giấy trắng cho người mượn tiền ký rồi sau ó cáo tự viết nội dung chuyển nhượng tài sản, lợi dụng hại không iết chữ ưa hồ sơ cho các hại ký mà không nói ó là Hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất.

V i thủ oạn trên, cáo ã thực hiện ngay việc xác lập quyền sử dụng ất sang tên Hà Th T và Lê Văn C (C là chồng cũ của T, đã ly hôn vào năm 2012) hoặc nhờ vợ chồng em gái của T (là Hà Hồng H- Vũ Đức H) ứng tên trên các giấy chứng nhận quyền sử dụng ất rồi thế chấp ể vay số tiền l n tại các Ngân hàng hoặc ký hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất cho người khác ể cấn trừ các khoản tiền ã vay trư c ó.

Hậu quả Hà Th T ã chiếm oạt 18 thửa ất trên a àn huyện C của 04 hại là Rah Lan H, B, Rah Lan T và Siu C, giá tr ất theo kết quả nh giá là 3.694.908.280 . Ngoài ra, còn xác lập giao d ch ảo ảm v i các Ngân hàng ể vay tiền ằng các GCNQSDĐ cáo chiếm oạt ược. Tương tự, mặc dù cáo không có vườn cây cao su nhưng ã gian dối án cho anh Ngọ Anh T v i số tiền 382.000.000 ồng. Tồng giá tr tài sản cáo chiếm oạt là 4.076.908.280 đồng (bốn tỷ không trăm bảy mươi sáu triệu chín trăm lẻ tám nghìn hai trăm tám mươi đồng).

V i hành vi phạm tội của cáo Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai ã áp dụng iểm a, khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự xét xử cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ, úng pháp luật.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của cáo: Trường hợp phạm tội của cáo thuộc trường hợp ặc iệt nghiêm trọng, phạm tội nhiều lần, v i số tiền rất l n, xâm phạm ến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng ến tình hình trật tự tr an, gây dư luận xấu ến chính sách ối v i nhân dân vùng dân tộc thiểu số của Đảng và nhà nư c. Cho nên, cần phải xử lý nghiêm m i có tác dụng răn e và giáo dục.

Tại phiên tòa phúc thẩm cáo khai nhận hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn hối cải. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của cáo thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần, ối v i nhiều người nên áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” theo iểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt cáo mức án 19 năm tù là phù hợp, tương xứng v i tính chất hành vi phạm tội và hậu quả cáo ã gây ra. Do ó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của cáo.

Xét kháng cáo của các hại:

Xét kháng cáo của b hại cho rằng là người thứ a ngay tình, không biết các tài sản khi giao d ch là tài sản do b cáo Hà Th T phạm tội mà có nên yêu cầu công nhận các hợp ồng thế chấp. Hội ồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng:

- Như ã nhận nh trên, các tài sản thế chấp tại Ngân hàng TMCP Y Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam và Ngân hàng TMCP A là do b cáo T thực hiện hành vi lừa ảo ể chiếm oạt của các hại mà có; không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của b cáo Hà Th T nên các hợp ồng thế chấp không có hiệu lực và vô hiệu theo quy nh tại iểm c khoản 1 Điều 117, Điều 118, Điều 122 và Điều 123 Bộ luật dân sự. Bên cạnh ó, như Tòa án cấp sơ thẩm ã nhận nh: Tại thời iểm xác lập Hợp ồng thế chấp tài sản thì trên ất có cà phê, có nhà ở, có ất còn có nhà mồ…và ều do các hại ang canh tác, cư trú cho ến nay nhưng các Ngân hàng vẫn xác lập Hợp ồng thế chấp tài sản. Do ó, các Ngân hàng không phải là người thứ a ngay tình theo quy nh tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Mặt khác, theo quy nh tại khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự thì các tài sản của các chủ sở hữu do b cáo T chiếm oạt phải ược trả lại cho các chủ sở hữu. Tuy nhiên, các tài sản của các hại ã ứng tên chủ sở hữu là cáo T hoặc người khác. Cho nên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên vô hiệu các hợp ồng thế chấp, buộc b cáo T trả các khoản tiền vay tại các ngân hàng và các hại ược thực hiện quyền xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất là có căn cứ, úng pháp luật.

Anh Phan Văn H là người b hại trong vụ án này nhưng anh H là người ứng tên tại các hợp ồng tín dụng, trực tiếp nhận tiền vay tại Ngân hàng; anh H ã thỏa thuận trả nợ vay cho Ngân hàng tại Quyết nh công nhận sự thỏa thuận của các ương sự số 03/2019/ QĐST-DS ngày 25/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh H trả cho Ngân hàng là có cơ sở; khoản tiền mà anh H phải trả cho Ngân hàng TMCP Y Việt Nam ã ược bảo ảm bằng việc à Hà Hồng H trả tiền cho anh H theo Quyết nh của của Bản án sơ thẩm.

Đối v i nội dung kiến ngh của ản án sơ thẩm ề ngh Cơ quan CSĐT tiếp tục xem xét trách nhiệm ối v i các cá nhân có thẩm quyền thực hiện thủ tục xác lập giao d ch ảo ảm tại Ngân hàng TMCP Y Việt Nam chi nhánh Gia Lai phòng giao d ch C: Xét thấy nội dung kiến ngh này của Tòa án cấp sơ thẩm là không có căn cứ; ởi lẽ:

Trong quá trình iều tra ã xác nh sau khi Ngân hàng ký hợp ồng tín dụng v i các ông ( à) Hà Hồng H, Vũ Đức H ằng việc thế chấp tài sản là các quyền sử dụng ất ứng tên à H, ông H; khi những người này không có khả năng thanh toán ã ủy quyền cho Ngân hàng tìm kiếm người mua ể xử lý nợ. Ông Phan Văn H mua lại và lập thủ tục sang tên các quyền sử dụng ất từ ông ( à) Hà Hồng H, Vũ Đức H sang tên Phan Văn H và ông H ược cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất; sau khi ược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ất, ông H lập thủ tục vay của Ngân hàng TMCP Y Việt Nam (chi nhánh Gia Lai phòng giao dịch C) và các hợp ồng ã ược thực hiện công chứng chứng thực, ăng ký theo úng quy nh. Như vậy, tại thời iểm cho vay, ông H là chủ sử dụng ất nên Ngân hàng căn cứ vào Điều 166, Điều 167, Điều 168, Điều 170 Luật Đất ai ể xác lập giao d ch ảo ảm là có căn cứ và việc cho vay v i số tiền l n hơn số tiền vay trư c ó không thể cho rằng là không phù hợp, vì giá tr tài sản thế chấp ể ông ( à) Hà Hồng H, Vũ Đức H vay số tiền 1,1 tỷ là tại thời iểm năm 2014, còn giá tr tài sản thế chấp ể ông H vay số tiền 1.250.000.000 ồng là thời iểm năm 2017. Do vậy, nội dung kiến ngh của Tòa án cấp sơ thẩm là không có căn cứ nên HĐXX ỏ phần kiến ngh này theo ề ngh của Đại diện Viểm sát.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, cáo Hà Th T thừa nhận tại thời iểm b cáo thực hiện hành vi phạm tội; b cáo dùng thủ oạn hứa hẹn và cho các hại vay tiền (ông Rah Lan H 710.000.000đ, chị Siu H 60.000.000đ, ông Rah Lan T 95.000.000đ) nhằm tạo lòng tin cho các hại ể mượn các Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất của các hại, lập hợp ồng chuyển nhượng gian dối. Do ó, số tiền trên là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần phải t ch thu sung quỹ Nhà nư c theo quy nh tại iểm a, khoản 1 Điều 46, iểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và iểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tòa án cấp sơ thẩm tuyên trả cho b cáo là không úng.

Tòa án cấp sơ thẩm ã tuyên vô hiệu các hợp ồng thế chấp và tuyên các hại ược thực hiện quyền xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất nhưng không quyết nh việc thu hồi lại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất ã cấp cho Hà Th T và Lê Văn C; Phan Văn H theo Điều 106 Luật ất ai là thiếu sót nên Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung ể giải quyết triệt ể vụ án.

Từ các nhận nh nêu trên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của

cáo Hà Th T và các b hại Phan Văn H, Ngân hàng TMCP X Việt Nam, Ngân hàng TMCP A; chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng TMCP Y Việt Nam.

Do kháng cáo của cáo Hà Th T và các b hại Phan Văn H, Ngân hàng TMCP X Việt Nam, Ngân hàng TMCP A không ược chấp nhận nên những người kháng cáo phải ch u án phí theo quy nh.

Những phần quyết nh khác của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh nên không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ iểm khoản 1 Điều 355, iểm d khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của: b cáo Hà Th T và các b hại Phan Văn H, Ngân hàng TMCP X Việt Nam, Ngân hàng TMCP A.

Chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng TMCP Y Việt Nam và sửa bản án sơ thẩm về phần kiến ngh , về trách nhiệm dân sự. Xử:

[1] Áp dụng iểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; iểm s khoản 1 Điều 51, iểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015,

Xử phạt b cáo Hà Th T 19 (mười chín) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2018.

[2] Áp dụng khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; iểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 122, Điều 123, Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 106 và Điều 188 Luật Đất ai; Ngh nh 163/2006/NĐ-CP về Giao d ch bảo ảm, Xử:

[2.1] T bố hợp ồng thế chấp bất ộng sản số 01/2016/8042059/HĐBĐ ngày 21/9/2016 ối v i 02 tài sản thế chấp là GCNQSDĐ số CD 626327, CD 626329 và hợp ồng thế chấp bất ộng sản số 02/2016/8042059/HĐBĐ ngày 23/9/2016 ối v i GCNQSDĐ số CD 626328 tại Ngân hàng TMCP X Việt Nam chi nhánh Nam Gia Lai; Hợp ồng thế chấp tài sản số 2733/17/TC-TT/VIII ngày 11/5/2017 ối v i 02 tài sản thế chấp là GCNQSDĐ số BX 418078; BX 418079 và Hợp ồng thế chấp số 3303/17/TC-TT/VIII.3 ngày 07/6/2017 v i tài sản thế chấp là GCNQSDĐ số BX 418530 tại Ngân hàng TMCP A chi nhánh Gia Lai; Hợp ồng thế chấp quyền sử dụng ất 18/04A/NHNT ngày 18/4/2017 v i tài sản thế chấp là 07 GCNQSDĐ số CI 345748, CI 345749, CI 345750, CI 345751, CI 345752, CI 345753, CI 345754 tại Ngân hàng TMCP Y Việt Nam chi nhánh Gia Lai – Phòng giao d ch C là vô hiệu.

[2.2] Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiện thu hồi 05 Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CD 626327; CD 626328; CD 626329 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai cấp cùng ngày 01/4/2016, ứng tên Hà Th T và Lê Văn C. Ông Rah Lan H, à S có quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền ể xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CD 626327; CD 626328; CD 626329 cấp cùng ngày 01/4/2016; BX 418078 và BX 418079 cấp cùng ngày 22/01/2015, theo quy nh của pháp luật.

Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiện thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số BX 418530 do UBND huyện Chư sê cấp ngày 12/02/2014, ứng tên Hà Th T và Lê Văn C. Anh B có quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền ể xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số BX 418530 ngày 12/02/2014, theo quy nh của pháp luật.

Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiện thu hồi 07 Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CI 345748, CI 345749, CI 345750, CI 345751, CI 345752, CI 345753 và CI 345754 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai cấp cùng ngày 14/4/2017, ứng tên ông Phan Văn H. Ông Siu C có quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền ể xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CI 345748, CI 345749, CI 345750, CI 345751, CI 345752, CI 345753 và CI 345754 cấp cùng ngày 14/4/2017, theo quy nh của pháp luật.

Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiện thu hồi 04 Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CA984930, CA 984931, CA 984932, CA 984933 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Gia Lai cấp ngày 27/8/2015, ứng tên Hà Th T- Lê Văn C (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 984931 và CA 984932 chỉnh lý sang tên vợ chồng bà Phan Thị H). Ông Rah Lan T có quyền liên hệ v i cơ quan có thẩm quyền ể xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất theo các Giấy chứng nhận quyền sử dụng ất số CA984930, CA 984931, CA 984932, CA 984933 ngày 27/8/2015, theo quy nh của pháp luật.

[2.3] Buộc b cáo Hà Th T liên i cùng Lê Văn C phải trả các khoản tiền vay cho các Ngân hàng sau:

- Ngân hàng TMCP X Việt Nam (thông qua chi nhánh Nam Gia Lai) số tiền 1.858.435.415 ồng (một tỷ tám trăm năm mươi tám triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn bốn trăm mười lăm đồng). Trong ó tiền gốc là 1.250.000.000 ồng (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng), lãi trong hạn 509.965.277 ồng (năm trăm lẻ chín triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 98.470.138 ồng (chín mươi tám triệu bốn trăm bảy mươi nghìn một trăm ba mươi tám đồng);

- Ngân hàng TMCP A (thông qua chi nhánh Gia Lai) số tiền 2.419.894.310 ồng (hai tỷ bốn trăm mười chín triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm mươi đồng). Trong ó tiền gốc là 1.600.000.000 ồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng), lãi trong hạn là 73.629.808 ồng (bảy mươi ba triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn tám trăm lẻ tám đồng), lãi quá hạn 746.264.502 ồng (bảy trăm bốn mươi sáu triệu hai trăm sáu mươi bốn nghìn năm trăm lẻ hai đồng).

- Ngân hàng TMCPAn Bình (thông qua chi nhánh Gia Lai) số tiền 809.051.353 ồng (tám trăm lẻ chín triệu không trăm năm mươi mốt nghìn ba trăm năm mươi ba đồng). Trong ó tiền gốc là 500.000.000 ồng (năm trăm triệu đồng), lãi trong hạn là 13.684.931 ồng (mười ba triệu sáu trăm tám mươi bốn nghìn chín trăm ba mươi mốt đồng), lãi quá hạn 295.366.422 ồng (hai trăm chín mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi hai đồng).

[2.4] Buộc ông Phan Văn H trả tiền vay cho Ngân hàng TMCP Y Việt Nam (thông qua chi nhánh Gia Lai) số tiền 1.708.279.795 ồng (trong ó tiền gốc là 1.250.000.000 ồng, lãi trong hạn 367.222.603 ồng, lãi quá hạn 91.057.192 ồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Bị cáo Hà Thị T, Lê Văn C, ông Phan Văn H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Việc tính lãi và cả lãi suất nợ quá hạn đối với các khoản vay của tổ chức tín dụng phải theo đúng hợp đồng đã ký kết kể từ khi giao dịch cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ gốc và lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng. Khi tính lãi chỉ tính lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án.

[3] T bố hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất số 527 quyển số 02/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/7/2017 tại văn phòng công chứng C giữa Huỳnh Công T- à Huỳnh Th Chí T và Hà Th T; Hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất số 002757 quyển số 05VP/CC-SCC/HĐGD ngày 05/9/2017 tại Văn Phòng công chứng Xuân Thủy giữa à Hoàng Th S và Hà th T; Hợp ồng chuyển nhượng quyền sử dụng ất theo hồ sơ số 5155/2017/CM1336 và hồ sơ số 5155/2017/CM1337 ngày 31/5/2017 giữa ông Lâm Vĩnh H, à Phan Th H và Hà Th T, Lê Văn C là vô hiệu.

[3.1] Buộc b cáo Hà Th T phải trả cho anh Ngọ Anh T số tiền 382.000.000 (ba trăm tám mươi hai triệu đồng).

[3.2] Buộc à Hà Hồng H phải trả cho ông Phan Văn H 1.160.000.000 (một tỷ một trăm sáu mươi triệu đồng).

[4] Áp dụng iểm a khoản 1 Điều 46, iểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; iểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Truy thu, sung quỹ Nhà nư c số tiền 865.000.000 ồng b cáo T dùng vào việc phạm tội (các bị hại đã nhận của bị cáo T). Cụ thể:

Truy thu ối v i ông Rah Lan H và à S, số tiền 710.000.000 (bảy trăm mười triệu đồng).

Truy thu ối v i ch Siu H và anh Rơ Lan C số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu đồng).

Truy thu ối v i ông Rah Lan T số tiền 95.000.000 (chín mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong; bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[5] Các khoản nợ giữa b cáo Hà Th T v i ông Lâm Vĩnh H và à Phan Th H; Ông Huỳnh Công T và à Huỳnh Th Chí T; à Hoàng Th S không liên quan ến vụ án này nên các ông, à có quyền khởi kiện òi nợ b cáo Hà Th T trong vụ án khác theo quy nh của pháp luật.

[6] Đối v i việc chuyển nhượng, cho thuê ất của các hại trư c khi b cáo T chiếm oạt quyền sử dụng ất không liên quan ến vụ án và không có kháng cáo, kháng ngh .

[7] Về án phí:

- Án phí hình sự phúc thẩm: B cáo Hà Th T phải ch u 200.000 (H trăm nghìn) ồng án phí hình sự phúc thẩm.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn H phải ch u 300.000 ồng; Ngân hàng TMCP Y Việt Nam, Ngân hàng TMCP X Việt Nam, Ngân hàng TMCP A, mỗi ơn v phải ch u 300.000 ồng

[8] Các quyết nh khác của ản án sơ thẩm về các phần trách nhiệm dân sự khác, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền nghĩa vụ thi hành án không có kháng cáo, kháng ngh ã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ