- Tranh chấp gì? án hành chính — "Nguyễn Trường S khởi kiện UBND tỉnh Trà Vinh"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Trường S; giữ nguyên quyết định Bản án hành chính sơ thẩm:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 193 Luật tố tụng Hành chính; Điều 225 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 523/2020/HC-PT Ngày 11 - 9 - 2020 V/v: Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Vân
Các Thẩm phán:
Bà Huỳnh Thanh Duyên
Ông Vũ Ngọc Huynh
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 288/2020/TLPT-HC ngày 24 tháng 4 năm 2020 về việc: “Khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2020/HC-ST ngày 11 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3480/2020/QĐPT-HC ngày 18 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Trường S, sinh năm 1970 là Chủ Doanh nghiệp Tư nhân U. Địa chỉ: ấp Thống Nhất, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Trường S: Ông Lâm Khắc S, sinh năm 1977, địa chỉ: Số 34, đường Kiên Thị Nhẫn, Khóm 1, Phường 7, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền ngày 01/10/2019) (có mặt).
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T
Địa chỉ: 52A, đường Lê Lợi, Phường 1, thành phố T, tỉnh Trà Vinh
Người đại diện theo pháp luật: ông Đồng Văn Lâm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty Cổ phần Thương mại Dầu khí C
Địa chỉ: Số 64/20A – 67/6A, đường Phó Cơ Điều, Phường 4, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Trung Nguyên K, chức vụ Giám đốc công ty.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Cẩm P, chức vụ Trưởng Ban pháp chế Công ty Cổ phần Thương mại Dầu khí C (theo văn bản ủy quyền ngày 27/11/2019) (có mặt).
2. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh T
Địa chỉ: 36, đường Nguyễn Thái Học, Phường 1, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lưu Phước H, chức vụ Giám đốc (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
3. Chi Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh T
Địa chỉ: 80A Lê Lợi, Phường 1, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Duy T, chức vụ Giám đốc (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Người kháng cáo: Người khởi kiện ông Nguyễn Trường S
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/10/2019, bản tự khai ngày 30/9/2019 của ông Nguyễn Trường S, trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay ông Lâm Khắc S là người đại diện hợp pháp cho ông S trình bày:
Vào ngày 16/7/2019, Đoàn Thanh tra trực thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh T phối hợp với một số cơ quan, ban ngành có liên quan đến Cửa hàng xăng dầu U (Doanh nghiệp tư nhân U) tiến hành kiểm tra về lĩnh vực tiêu chuẩn đo lường chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã tiến hành lấy mẫu dầu DO 0.05S mang đi thử nghiệm. Ngày 01/8/2019 đại diện Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh T có làm việc với doanh nghiệp nội dung về việc công bố kết quả thử nghiệm mẫu. Theo phiếu kết quả thử nghiệm số 1333/DK/0688/0719, ngày 29/7/2019 của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Cần Thơ thì mẫu ký hiệu XD 10 không đạt chất lượng (Điểm chớp cháy cóc kín) quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học QCVN 01:2015/BKHCN.
Ngày 12/9/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành Quyết định số 1822/QĐ-XPVPHC đối với Doanh nghiệp tư nhân U. Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền 203.280.000 đồng (Hai trăm lẻ ba triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng) đối với hành vi bán dầu DO 0.05S có chất lượng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về về xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học. Hình thức phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận Cửa hàng đủ điều kiện bản lẻ xăng dầu 02 (hai) tháng đối với doanh nghiệp tư nhân U.
Không đồng ý Quyết định số 1822/QĐ-XPVPHC của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T vì ông S cho rằng với Nay ông Nguyễn Trường S chủ Doanh nghiệp tư nhân U yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh giải quyết hủy Quyết định số 1822/QĐ-XPVPHC, ngày 12/9/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T. Lý do quyết định xử phạt không đúng đối tượng,
Tại văn bản số 4358/UBND-NC ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh T do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T là ông Đồng Văn Lâm trình bày:
Vào ngày 16 tháng 7 năm 2019, Chi Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh T phối hợp với Sở Công thương, Cục quản lý thị trường tỉnh Trà Vinh; Phòng cảnh sát kinh tế (PC03) – Công an tỉnh Trà Vinh, Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ tiến hành kiểm tra về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa tại Doanh nghiệp tư nhân U – do ông Nguyễn Trường S là Chủ Doanh nghiệp, địa chỉ: ấp Thống Nhất, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Đoàn kiểm tra đã lấy một mẫu dầu DO 0.05S tại cột đo dầu số 22, sản xuất năm 2019 của Doanh nghiệp, tem kiểm định số 17 A09140 để gửi thử nghiệm chất lượng, giá bán niêm yết tại thời điểm lấy mẫu là 16.940 đồng/lít (Mười sáu ngàn chín trăm bốn mươi đồng). Kết quả thử nghiệm (Phiếu thử nghiệm số 1333/DK/0688/0719 ngày 29/7/2019 của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Cần Thơ) so với chỉ tiêu công bố thì mẫu dầu DO 0.05S (ký hiệu mẫu XD 10) không đạt chất lượng (Điểm chớp cháy cốc kín “nhỏ hơn 30/55”) theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học QCVN 01:2015/BKHCN.
Doanh nghiệp tư nhân U đã có hành vi vi phạm việc bán dầu DO 0.05S có chất lượng không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học (QCVN 01: 2015/BKHC), với số lượng 3.000 lít (Ba ngàn lít); giá bán niêm yết tại thời điểm lấy mẫu là 16.940 đồng/lít (Mười sáu ngàn chín trăm bốn mươi đồng trên lít ) việc vi phạm của Doanh nghiệp đã bị Chi cục Tiêu chuần Đo lượng chất lượng tỉnh Trà Vinh lập biên bản vi phạm hành vi chính vào ngày 09/9/2019.
Trong lúc chờ thông báo kết quả thử nghiệm, Đoàn kiểm tra của Chi Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng tỉnh T đã kiểm tra lại thực tế (ngày 15/8/2019) số lượng hàng hóa mà Đoàn kiểm tra ghi nhận tại thời điểm kiểm tra đã niêm phong, thì doanh nghiệp đã bán hết (số lượng 3.000 lít dầu DO 0.05S đã niêm phong) toàn bộ số lượng kiểm tra đã được kiểm tra, phát hiện vào ngày 16/7/2019.
Hành vi vi phạm của Doanh nghiệp tư nhân U đã vi phạm quy định tại điểm a, khoản 7, Điều 20 Nghị định số 119/2017/ NĐ – CP ngày 01/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường chất lượng và chất lượng sản phẩm, hành hóa.
Ngày 12/9/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân tỉnh T đã ban hành Quyết định số 1822/QĐ – XPVPHC, xử phạt vi phạm hành chính đối với Doanh nghiệp tư nhân U – do ông Nguyễn Trường S là người đại diện theo pháp luật, cụ thể:
- Hình thức xử phạt hành chính: Phạt tiền 203.280.000 đồng (Hai trăm lẻ ba triệu hai trăm tám mươi ngàn đồng) đối với hành vi vi phạm việc bán dầu DO 0.05S có chất lượng phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng dầu, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học (QCVN 01: 2015/BKHC).
- Hình thức phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy chứng nhận cửa hàng đủ điều kiện bán lẻ xăng dầu 02 (hai) tháng đối với Doanh nghiệp tư nhân U.
Từ cơ sở trên Ủy ban nhân dân tỉnh T có ý kiến: việc xử phạt hành chính đối với Doanh nghiệp tư nhân U, do ông Nguyễn Trường S làm đại diện theo pháp luật tại Quyết định số 1822/QĐ – XPVPHC ngày 12/9/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T là đúng quy định của pháp luật.
Theo văn bản số 33/DKCL ngày 24/12/2019 của Công ty Cổ phần Thương mại Dầu khí C trình bày :
Trên cơ sở thực hiện hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu số 12/CNTV-HĐ.ĐLXD-2018 và theo đơn đặt hàng của ông Nguyễn Trường S là chủ Doanh nghiệp tư nhân U. Ngày 07/7/2019 công ty có giao cho ông Nguyễn Trường S nhận 3.000 lít dầu DO 0,05S. Công ty giao dầu hoàn toàn phù hợp với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng, nhiên liệu điêzen và nhiên liệu sinh học.
Tại Bản án sơ thẩm số 01/2020/HC-ST ngày 11 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Căn cứ Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng Hành chính;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trường S – chủ Doanh nghiệp tư nhân U về việc yêu cầu Tòa án hủy quyết định xử phạt số 1822/QĐ-XPVPHC ngày 12/9/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 26/02/2020 người khởi kiện ông Nguyễn Trường S kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của ông do Quyết định 1822/QĐ-XPVPHC ngày 12/9/2019 xử phạt không đúng đối tượng do doanh nghiệp của ông chỉ là đại lý cung cấp sản phẩm mua đi bán lại từ công ty Cổ phần dầu khí Cửu Long – Chi nhánh Trà Vinh, do vậy nếu sản phẩm không đạt chất lượng theo quy chuẩn kỹ thuật thì người chịu trách nhiệm là công ty Cổ phần dầu khí Cửu Long. Doanh nghiệp đã yêu cầu Đoàn kiểm tra tiến hành thử nghiệm lần 2 tại trung tâm khác để đảm bảo tính khách quan nhưng không được chấp nhận.
Công ty Cổ phần Thương mại Dầu khí C cho rằng có bán hàng cho Doanh nghiệp U tuy nhiên chỉ chịu trách nhiệm đến khi bơm xăng giao qua bồn của doanh nghiệp, sau đó không chịu trách nhiệm. Tại phiên tòa ông S cũng khai nhận mua lượng xăng dầu trên 1 tháng do vậy, công ty Cửu Long không chịu trách nhiệm với số xăng dầu trên.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: biểu: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử phúc thẩm vụ án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Về nội dung: Người khởi kiện kháng cáo nhưng không có tình tiết, chứng cứ gì mới đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên toà phúc thẩm người bị kiện và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 225 Luật tố tụng hành chính xét xử vắng mặt người bị kiện và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[1.2] Đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quy định Điều 32, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của ông Nguyễn Trường S cho rằng ông chỉ là đại lý của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thương mại Dầu khí C tại Trà Vinh, sản phẩm bán không đạt chất lượng thì phải xử phạt Chi nhánh Công ty Cổ phần Thương mại Dầu khí C tại Trà Vinh mới đúng đối tượng.
Tại Hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu số 12/CNTV-HĐ.ĐLXD-2018 giữa chi nhánh Công ty Cổ phần Thương mại Dầu khí C tại Trà Vinh với ông S là giám đốc Doanh nghiệp tư nhân U thì doanh nghiệp tư nhân U là đại lý bán lẻ xăng dầu, trong đó hợp đồng có quy định trách nhiệm bảo quản chất lượng hàng hóa và việc lấy mẫu đối chứng khi giao hàng.
Theo lời khai của ông Nguyễn Trường S khi nhận 3.000 lít dầu DO 0,05S của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thương mại Dầu khí C tại Trà Vinh vào ngày 09/7/2019, ông không có lấy mẫu đối chứng theo quy định. Nhưng phía công ty dầu khí C cho rằng có lưu phiếu kết quả thử nghiệm, biên bản lấy mẫu và chứng thư chất lượng lô dầu cung cấp cho doanh nghiệp U đạt chất lượng. Tại thời điểm kiểm tra cột bơm dầu lấy mẫu thì doanh nghiệp U đã tiêu thụ chỉ còn 1.200 lít dầu DO 0.05S và sau khi kiểm tra số dầu 1.200 lít cũng đã bán ra thị trường. Do đó, căn cứ vào hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu thì ông Nguyễn Trường S phải có trách nhiệm bảo quản hàng hóa đúng tiêu chuẩn chất lượng kể từ khi hàng được giao cho doanh nghiệp. Sau đó nếu dầu không đạt chất lượng thì ông phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Xét yêu cầu của ông Nguyễn Trường S cho rằng kết quả thử nghiệm để xử phạt là không khách quan:
Trong quá trình kiểm tra là lấy mẫu đoàn kiểm tra đã thực hiện đúng theo hướng dẫn của Thông tư số 26/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 và Thông tư số 12/2017/TT-BKHCN ngày 28/9/2017 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 26/2012/TT-BKHCN của Bộ trưởng Bộ khoa học và Công nghệ quy định việc kiểm tra Nhà nước về chất lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường. Thời gian lưu trữ mẫu theo quy định là 30 ngày, đến ngày 06/12/2019 ông S có đơn yêu cầu giám định lại thì không còn mẫu để giám định lại. Do đó, phiếu thử nghiệm số 1333/KD/0688/0719 ngày 29/7/2019 của Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Cần Thơ là có cơ sở, không có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Xét ý kiến của ông Nguyễn Trường S cho rằng quyết định xử phạt số 1822/QĐ-XPVPHC ngày 12/9/2019 do ông Nguyễn Trung H, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ký là không đúng thẩm quyền. Nhận thấy theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Do đó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành quyết định số 1733/QĐ-GQXP ngày 11/9/2019 giao quyền cho ông Nguyễn Trung Hoàng – Phó Chủ tịch Ủy ban xử phạt là đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên, Tòa án sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Trường S, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Trường S phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Trường S; giữ nguyên quyết định Bản án hành chính sơ thẩm:
Căn cứ Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng Hành chính;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trường S – chủ Doanh nghiệp tư nhân U về việc yêu cầu Tòa án hủy quyết định xử phạt số 1822/QĐ-XPVPHC ngày 12/9/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T.
2. Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
3. Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Trường S phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 008909 ngày 02/03/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, xác nhận ông S đã nộp đủ.
Bản án có hiệu lực kể từ ngày tuyên án
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh - VKSND tỉnh Trà Vinh; - Cục THADS tỉnh Trà Vinh; - Đương sự; - Lưu: HS, VP. (16) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Huyền Vân |