vanban.org

Bản án 522/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Linh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Linh T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2022. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Linh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 522/2022/HS-ST
Ngày: 23-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thiều Thị Phi Loan;

2. Ông Trần Công Danh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Hồng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 486/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 499/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số: 1034/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022 đối với:

Bị cáo: Trần Linh T, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990 tại B; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Nơi đăng ký HKTT: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ: Trần Thị M, không rõ năm sinh, đã chết; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 06/11/2007, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt tù 01 năm 02 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 656/2007/HSST; Ngày 12/01/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt tù 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 28/2009/HSST; Ngày 27/9/2010, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt tù 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 447/2010/HSST; Ngày 21/10/2013, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt tù 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 638/2013/HSST.

Bị cáo bị bắt giữ ngày 08/7/2022, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 740/LTG ngày 15/7/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa. (Có mặt)

- Bị hại: Bà Phạm Kim C, sinh năm 1995.

Địa chỉ: 22B9, khu phố 11, phường T, thành phố B, tỉnh Đ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Trần Linh T là đối tượng bán vé số và sống lang thang. Khoảng 07 giờ ngày 08/7/2022, T nhận 165 tờ vé số của đại lý để đi bán, đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, T bán được khoảng 20 tờ vé số nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để có tiền trả cho đại lý. Thực hiện ý định trên, khoảng 11 giờ 45 phút ngày 08/7/2022, T điều khiển xe mô tô biển số 60B1-745.47 đến cửa hàng Nature’s Fruit tại địa chỉ R124, khu phố 7, phường T, thành phố B do chị Phạm Kim C (sinh năm 1995, ngụ tại 22B9, khu phố 11, phường T, thành phố B) làm chủ. Lợi dụng lúc chị C cùng với nhân viên là chị Phạm Hương N (sinh năm 1986, ngụ tại 164D, khu phố 11A, phường T, thành phố B) đang ăn cơm phía sau, quầy thu ngân không có người trông coi, T dựng xe trước cửa tiệm rồi đi bộ vào trong quầy thu ngân lấy trộm 01 (một) chiếc laptop hiệu LENOVO IDEAPAD màu xám rồi bỏ chạy ra ngoài thì bị chị C và chị N phát hiện truy hô đuổi theo T. Khi T chạy ra khỏi cửa tiệm thì vấp ngã, cùng lúc này anh Lê Hoàng Quốc Đ (sinh năm 1999, ngụ tại K3/69A, khu phố 5, phường B, thành phố B) là nhân viên bảo vệ của thẩm mỹ viện “Đ Luxury” địa chỉ 264, khu phố 7, phường T, thành phố B đứng gần đó chạy tới cùng chị C và chị N bắt giữ T, giao cho Công an phường Thống Nhất lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà để điều tra xử lý.

Vật chứng thu giữ gồm:

+ 01 (một) laptop hiệu LENOVO IDEAPAD đã hư hỏng màn hình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà đã giao trả cho chị Phạm Kim Chi.

+ 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 60B1-745.47, kiểu dáng Wave, số máy 10352050, số khung không có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà đã tra cứu số khung, số máy nhưng chưa xác định được nguồn gốc xe.

+ 01 (một) USB hiệu Kington chứa dữ liệu hình ảnh Trần Linh T trộm cắp tài sản, lưu hồ sơ vụ án.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 252/KL-HĐĐGTS ngày 11/7/2022, của Hội đồng định giá tài sản thành phố Biên Hòa đã kết luận: “01 (Một) máy tính xách tay hiệu LENOVO IDEAPAD có giá trị 6.294.000đ (Sáu triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng)”.

Trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Kim C đã nhận lại tài sản, phần hư hỏng màn hình chị C tự sửa chữa, không có yêu cầu bồi thường.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 493/CT-VKSBH-HS ngày 20/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Linh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Xử phạt bị cáo Trần Linh T từ 12 tháng tù đến 14 tháng tù.

- Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định.

Bị cáo T có mặt không có ý kiến tranh luận đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

3. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã mô tả, nhận thức được hành vi sai trái của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại bà Phạm Kim C vắng mặt không có lý do, lời khai của họ đã đầy đủ và có trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận định giá tài sản, biên bản lấy lời khai bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 08/7/2022, tại cửa hàng Nature’s Fruit địa chỉ R124, khu phố 7, phường T, thành phố B, Trần Linh T đã có hành vi trộm cắp 01 (một) máy tính xách tay hiệu LENOVO IDEAPAD trị giá 6.294.000đ (Sáu triệu, hai trăm chín mươi bốn nghìn đồng) của chị Phạm Kim C thì bị bắt quả tang.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Trần Linh T phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 493/CT-VKSBH-HS ngày 20/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

- Về nhân thân: Bị cáo T từng có nhiều tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo T để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

Về vật chứng:

- 01 (một) laptop hiệu LENOVO IDEAPAD đã hư hỏng màn hình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà đã giao trả cho bị hại chị Phạm Kim C nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 60B1-745.47, kiểu dáng Wave, số máy 10352050, số khung không có. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà đã tra cứu số khung, số máy nhưng chưa xác định được nguồn gốc xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà tiếp tục tạm giữ, làm rõ xử lý sau là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

+ 01 (một) USB hiệu Kington chứa dữ liệu hình ảnh Trần Linh T trộm cắp tài sản, lưu hồ sơ vụ án.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:

Bị hại bà Phạm Kim C không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.

- Đối với phần trình bày của bị cáo tại phiên tòa được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Tuyên bố bị cáo Trần Linh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Trần Linh T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2022.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Linh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Bị cáo Trần Linh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ