vanban.org

Bản án 520/2022/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trương Đông Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Đông Hà và đồng phạm - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 520/2022/HS-PT

Ngày: 12/12/2022

––––––––––––––– Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Công Huân Các Thẩm phán: 1. Ông Phan Thanh Nguyễn 2. Bà Phạm Uyên Thy Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Kiều Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự phúc thẩm thụ lý số: 465/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo Trương Đông H, Lâm Thị Đ, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 140/2022/HSST ngày 27-9-2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo có kháng cáo: 1. Trương Đông H; Sinh ngày 15/5/1985, tại tỉnh Bến Tre; Hộ khẩu thường trú: 213/43 Quang Trung, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 251/15B Chu Văn An, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Chạy xe Grab; Con ông: Trương Thanh N (đã chết) và bà Lê Thị Quỳnh M, sinh năm 1956; Có vợ: Đỗ Thị Mỹ H, sinh năm 1988 và 02 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày: 08/3/2022 đến ngày 17/3/2022 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt. 2. Lâm Thị Đ; Sinh ngày 19/7/1969, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 251/15B A, phường C, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 55 P, phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Ngũ Q (đã chết) và bà Lâm Thị M (đã chết); Có chồng: Đỗ Văn N(đã ly hôn) và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 09 giờ 45 phút ngày 08/3/2022, Tổ tuần tra trật tự lòng lề đường, trật tự an toàn giao thông của Công an phường 01, quận Bình Thạnh gồm 02 đồng chí: Thiếu tá Nguyễn Thanh Bình và Đại uý Nguyễn Thành Trung đang tiến hành tuần tra theo kế hoạch công tác đã được phê duyệt, thì phát hiện tại trước nhà số 55 P, phường E, quận B có 01 xe ô tô tải hiệu SUZUKI loại 500kg biển số 51D-661.53 đang đỗ xe ngược với chiều lưu thông của làn đường vi phạm luật giao thông đường bộ (điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019) nên tiến hành kiểm tra hành chính. Lúc này, Trương Đông H từ trong nhà số 55 P đi ra và nhận mình là tài xế của xe trên. Đồng chí Bình yêu cầu H xuất trình giấy tờ xe để kiểm tra nhưng H không chấp hành mà gọi mẹ vợ là Lâm Thị Đ từ trong nhà đi ra. Đ tự xưng là chủ xe, nói chuyện năn nỉ xin đồng chí Bình và đồng chí Trung bỏ qua vi phạm. Đồng chí Bình không đồng ý mà yêu cầu phải xuất trình đầy đủ giấy tờ để kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an kiên quyết xử lý thì Đ có lời lẽ lớn tiếng chống đối, chửi bới, xúc phạm đồng chí Bình, đồng chí Trung. Trong lúc đang xảy ra cự cãi thì H lên xe ô tô nổ máy, định bỏ đi nơi khác nhưng bị đồng chí Bình chặn đứng trước đầu xe ngăn cản, yêu cầu giữ nguyên hiện trạng. Lúc này, Đ có hành vi dùng 2 tay xô đẩy đồng chí Bình qua một bên cho H di chuyển xe đi. H điều khiển xe ô tô chạy tới được khoảng 02 mét đến trước nhà số 57 Phó Đức Chính thì không chạy được nữa do đồng chí Bình tiếp tục đi đến đứng trước đầu xe chặn lại, yêu cầu xuống xe xuất trình giấy tờ. Đ đi đến tiếp tục mắng chửi, dùng tay giằng co, đẩy đồng chí Bình qua một bên nhưng đồng chí Bình kiên quyết đứng chặn trước đầu xe. Lúc này, H cảm thấy bực tức nên nhấn ga cho xe di chuyển lên với tốc độ chậm, đụng trúng vào người, làm đồng chí Bình té ngã xuống mặt đường tại trước nhà số 59 Phó Đức Chính, thì H dừng xe lại. Đ thấy vậy đi tới dùng hai tay nắm tay trái đồng chí Bình lôi kéo bắt đứng dậy và nói đừng nằm ăn vạ. Cùng lúc này, Đ thấy đồng chí Nguyễn Thành Trung đang cầm điện thoại di động ghi hình hành vi của mình và H, nên Đ đi tới, quơ tay giật điện thoại của đồng chí Trung nhưng không trúng điện thoại mà trúng cảnh phục, làm rơi biển tên Công an nhân dân của đồng chí Trung xuống mặt đường. Sau đó, Đ và H bỏ đi vào nhà. Còn đồng chí Trung tự nhặt lại bảng tên rồi gọi điện thoại báo cáo Ban chỉ huy Công an phường 01, quận Bình Thạnh. Cùng ngày, Công an phường 01 đã mời Trương Đông H, Lâm Thị Đ và những người có liên quan về trụ sở làm việc, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H về hành vi chống người thi hành công vụ. Tại Cơ quan điều tra, Trương Đông H và Lâm Thị Đ khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.

Trương Đông H khai bản thân không chấp hành yêu cầu kiểm tra vì không muốn bị xử phạt do trước đó đã bị Công an quận Phú Nhuận tạm giữ giấy phép lái xe do vi phạm khi tham gia giao thông, nên không có để xuất trình cho Công an phường 01, quận Bình Thạnh. Đ chỉ xúi giục H điều khiển xe di chuyển đi cho Công an khỏi phạt chứ không xúi giục H điều khiển xe đụng trúng đồng chí Bình. Do H bực tức đồng chí Bình nên điều khiển xe di chuyển chậm lên với mục đích đụng nhẹ để đồng chí Bình tránh sang một bên, chứ không muốn đụng mạnh gây nguy hiểm cho đồng chí Bình. Lâm Thị Đ khai gia đình thường xuyên đậu xe ô tô như vậy và không biết là vi phạm. Do xin đồng chí Bình bỏ qua không được nên Đ bức xúc, nóng giận và có hành vi la lối, chửi bới, dùng tay lôi kéo đồng chí Bình cho H điều khiển xe đi. Đ không xúi giục H điều khiển xe đụng trúng đồng chí Bình, việc này là do H tự ý thực hiện. Đ biết đồng chí Trung đang quay phim nên đi tới giật điện thoại của đồng chí Trung không cho quay phim ghi hình sự việc, trong lúc Đ giằng co để ngăn cản đồng chí Trung quay phim, ghi hình, Đ đã dùng tay níu kéo, chụp lấy điện thoại nhưng giật trúng vào ngực đồng chí Trung, làm rơi bảng tên Công an nhân dân xuống mặt đường. Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 262/TgT.22 ngày 13/4/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh kết luận thương tích của đồng chí Nguyễn Thanh Bình: “Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương phần mềm vùng ngực trái gây sưng bầm mô mềm đã được điều trị, hiện không còn dấu vết thương tích, tình trạng ổn định. Theo thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 00%. Kết luận khác: Chấn thương trên không nguy hiểm tính mạng đương sự”. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 140/2022/HSST ngày 27-9-2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: 1. Tuyên bố các bị cáo Trương Đông H và Lâm Thị Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”; 1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 330; Điều 38; điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Trương Đông H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án (được trừ đi thời giam tạm giam từ ngày 08/3/2022 đến ngày 17/3/2022). 1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 330; Điều 38; điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Lâm Thị Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03 tháng 10 năm 2022, các bị cáo Trương Đông H, Lâm Thị Đ có đơn kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ. * Tại phiên tòa phúc thẩm: - Các bị cáo Trương Đông H, Lâm Thị Đ đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử, đồng thời các bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo. Hai bị cáo không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng, cả hai đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc xét xử vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trương Đông H, Lâm Thị Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo H 09 tháng tù, bị cáo Đ 06 tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không bổ sung được tình tiết nào mới. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trương Đông H, Lâm Thị Đ làm trong hạn luật định, tại phiên tòa các bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo. Việc kháng cáo của các bị cáo Trương Đông H, Lâm Thị Đ phù hợp với quy định tại các Điều 333, 342 Bộ luật tố tụng hình sự, nên được xem xét giải quyết, xét xử theo trình tự phúc thẩm. [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo Trương Đông H, Lâm Thị Đ tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, qua đó đã có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 09 giờ 45 phút ngày 8/3/2022, tổ tuần tra trật tự lòng lề đường, trật tự an toàn giao thông thuộc Công an phường E, quận B gồm 02 đồng chí là Thiếu tá Nguyễn Thanh Bình và Đại uý Nguyễn Thành Trung, đang tiến hành tuần tra theo kế hoạch công tác đã được phê duyệt số 13/KH-CAP ngày 07/3/2022 của Công an quận Bình Thạnh. Khi đi đến nhà số 55 P, phường 1, thì

phát hiện tại trước nhà có 01 xe ô tô tải hiệu SUZUKI biển số 51D-661.53 đang đỗ xe ngược với chiều lưu thông của làn đường để bốc dỡ hàng hóa, vi phạm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 nên tiến hành kiểm tra. Trương Đông H đi tới tự nhận là tài xế nhưng vì không muốn bị xử phạt nên không chấp hành yêu cầu xuất trình giấy tờ để kiểm tra hành chính của tổ công tác mà gọi mẹ vợ là Lâm Thị Đ trong nhà ra giải quyết. Lâm Thị Đ đi ra tự xưng là chủ xe, xin được bỏ qua lỗi vi phạm nhưng không được chấp nhận nên không hợp tác, đồng thời có những lời lẽ chửi bới, la hét, chống đối, xúc phạm đồng chí Nguyễn Thành Trung và đồng chí Nguyễn Thanh Bình. Lâm Thị Đ dùng 02 tay xô đẩy đồng chí Nguyễn Thanh Bình đang đứng trước đầu xe để Trương Đông H di chuyển dời xe đi nơi khác. H lên cabin nổ máy điều khiển xe ô tô với tốc độ chậm, định lách qua đồng chí Bình để cho xe dời xe đi thì đầu xe ô tô chạm vào người đồng chí Nguyễn Thành Bình, làm đồng chí Bình đang đứng chặn trước đầu xe té ngã xuống mặt đường. Khi thấy đồng chí Bình bị té ngã thì Lâm Thị Đ đi tới lôi kéo, bắt đồng chí Bình đứng dậy, nói đồng chí Bình đừng nằm ăn vạ, nhằm mục đích bênh vực H. Ngoài ra, khi phát hiện đồng chí Nguyễn Thành Trung đang quay video ghi lại hành vi vi phạm pháp luật của Đ và H thì Đ tiếp tục dùng tay giành giật điện thoại, nhằm ngăn cản đồng chí Trung quay phim, nhưng không giật trúng điện thoại mà trúng vào bộ cảnh phục đồng chí Trung đang mặc, làm rơi bảng tên Công an nhân dân của đồng chí Trung xuống mặt đường rồi bỏ đi vào nhà. Các bị cáo Trương Đông H, Lâm Thị Đ đã có hành vi dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ, thực hiện công vụ, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” là có căn cứ, đúng quy định. [3] Xét nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bị cáo Trương Đông H, Lâm Thị Đ đã có hành vi dùng vũ lực để cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của tổ tuần tra trật tự lòng lề đường, trật tự an toàn giao thông tại phường E, quận B, theo kế hoạch công tác đã được phê duyệt. Nên Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử các bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ”, theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự và tuyên phạt bị cáo Trương Đông H 09 tháng tù, bị cáo Lâm Thị Đ 06 tháng tù. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như như: có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H 09 tháng tù, bị cáo Đ 06 tháng tù là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Xét thấy bị cáo Trương Đông H là lái xe, đã cho xe đỗ xe ngược với chiều lưu thông của làn đường, vi phạm luật giao thông đường bộ. Khi được tổ tuần tra thực hiện công vụ theo kế hoạch của Công an phường 1 yêu cầu xuất trình giấy tờ xe để kiểm tra nhưng H không chấp hành mà còn kêu gọi đồng

bọn ra cản trở, chống đối tổ công tác để cho H đưa xe vi phạm ra khỏi hiện trường. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Trương Đông H 09 tháng tù là phù hợp, tại cấp phúc thẩm bị cáo cũng không cung cấp thêm được tình tiết chứng cứ nào mới, nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trương Đông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị cáo Lâm Thị Đ khi thấy tổ công tác kiên quyết xử lý sai phạm của bị cáo H, đã chửi bới xúc phạm tổ công tác, tác động làm rơi bảng tên Công an nhân dân của thành viên tổ công tác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất mức độ hạn chế hơn bị cáo H, bị cáo Đ còn là mẹ vợ của bị cáo H. Tại phiên tòa bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo bị bệnh tim, ngày 31/7/2022 đã được phẫu thuật điều trị, hiện vẫn đang điều trị định kỳ theo chỉ định của bệnh viện, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo Lâm Thị Đ có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng, có nghề nghiệp và nơi cư trú rõ ràng và hiện tại bị cáo đang điều trị bệnh tim. Do đó không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo được hưởng án treo, với thời gian thử thách nhất định cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh, phòng ngừa chung, cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm cũng như có điều kiện để chữa bệnh. Lập luận trên đây cũng là quan điểm để Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [5] Bị cáo Trương Đông H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Lâm Thị Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trương Đông H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 330; Điều 38; điểm i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo Trương Đông H 09 (chín) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ đi thời gian đã bị tạm giam từ ngày 08/3/2022 đến ngày 17/3/2022. [2] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khỏan 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lâm Thị Đ. Sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lâm Thị Đ 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Lâm Thị Đ về cho UBND Phường E, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. [3] Bị cáo Trương Đông H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Lâm Thị Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. [5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. (Đã giải thích chế định về án treo cho bị cáo Lâm Thị Đ).

Cỡ chữ