- Tranh chấp gì? "Danh Vị T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
- Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 Sửa đổi, bổ sung một số điều c…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 52/2026/QĐ-TA | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 5 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 18 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Văn Quang Bảo
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Linh
Ngày 11 tháng 5 năm 2026, tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 4 thành phố Hồ
Chí Minh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 44/2026/QĐ-TA ngày 04 tháng 5 năm 2026 đối với:
Họ và tên: Danh Vị T, sinh năm: 2005;
Căn cước công dân: 091205005760;
Dân tộc: Khơ me;
Tôn giáo: Phật giáo;
Trình độ học vấn: 07/12;
Quê quán: Tỉnh An Giang;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ C, ấp A, xã G, tỉnh An Giang;
Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định;
Nghề nghiệp: Làm thuê;
Tiền án: Không; tiền sự: Không;
Con ông Danh Đ (đã chết) và bà Trần Thị O.
Danh Vị T có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Văn Việt– Cán bộ Công an phường
T, thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 05/GUQ-CAP ngày 11/05/2026 của Trưởng Công an phường T, thành phố Hồ Chí Minh).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 18, thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Biện pháp được đề nghị áp dụng: Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc đối với Danh Vị T do Công an phường T, thành phố Hồ Chí Minh lập và tại phiên họp thể hiện:
Danh Vị T là đối tượng không có nơi cư trú nhất định. Ngày 28/4/2026,
Công an phường phát hiện T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng số 15, nhà trọ SUBI, D, khu phố F, phường T, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 28/4/2026, Công an phường T đã ban hành Văn bản số 19/GĐN-CAP đề nghị Trạm y tế phường T, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét nghiệm xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Danh Vị T.
Ngày 28/4/2026, Trạm y tế phường T nghiện ma túy loại
Methamphetamine theo phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 28/4/2026. Tại bản tường trình và biên bản ghi lời khai ngày 28/4/2026 thì Danh Vị T thừa nhận có sử dụng ma túy lần đầu từ tháng 12/2025 đến nay và lần gần nhất Danh Vị T sử dụng ma túy là ngày 21/4/2026, ma túy Danh Vị T sử dụng là ma túy đá, loại Methamphetamine và hình thức sử dụng là hút.
Ngày 28/4/2026, Danh Vị T từ chối đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện
nên Công an phường T đã lập biên bản vi phạm ngày 29/4/2026. Cùng ngày, Trưởng Công an phường T lập hồ sơ và ban hành Quyết định số 03/QĐ-CNBB ngày 29/4/2026 về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bàn giao Danh Vị T cho Cơ sở cai nghiện ma túy số 4 thành phố Hồ Chí Minh quản lý trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện. Ngày 04/5/2026, Trưởng công an phường T ban hành Đề nghị số 03/ĐN-CNBB về việc xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Danh Vị T.
* Ý kiến cơ quan đề nghị: Đề nghị Tòa án đưa Danh Vị T vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc để giúp Danh Vị T cai nghiện, trở thành người có ích cho xã hội và góp phần đảm bảo an ninh trật tự tại địa phương. Đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thanh phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Danh Vị T với thời hạn từ 14 tháng đến 16 tháng kể từ ngày người bị đề nghị bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
* Ý kiến của người bị đề nghị: Người bị đề nghị thừa nhận có nghiện ma
túy đá, loại Methamphetamine và hình thức sử dụng là hút. Thống nhất về việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đề nghị Tòa án áp dụng thời gian cai nghiện bắt buộc thấp nhất.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 -Thành phố Hồ
Chí Minh: Trong quá trình thụ lý hồ sơ, chuẩn bị mở phiên họp và tại phiên họpThẩm phán, Thư ký, Cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng quy định của Pháplệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ Công an - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao. Căn cứ các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ, nhân thân và lời khai của Danh Vị T về việc sử dụng ma túy. Đề nghị Tòa án chấp nhận quan điểm đưa Danh Vị T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 14 đến 16 tháng.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ xem xét, quyết định áp dụng
biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát và ý kiến của người bị đề nghị.
XÉT THẤY:
- Về thẩm quyền xem xét, quyết định: Căn cứ hồ sơ đề nghị của Trưởng
Công an phường T lập đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Danh Vị T. Căn cứ khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025; điểm a khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Thông tư liên tịch số: 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ Công an - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân Khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý xem xét là đúng thẩm quyền.
- Về thời hiệu áp dụng: Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính đối với
Danh Vị T lập ngày 29/4/2026 do Danh Vị T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, ngày 04/5/2026 Tòa án thụ lý hồ sơ xem xét, quyết định là còn thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính.
- Về nơi cư trú: Theo hồ sơ cũng như lời trình bày tại phiên họp của Danh
Vị T thể hiện Danh Vị T có đăng ký thường trú tại: Tổ C, ấp A, xã G, tỉnh An Giang nhưng không sinh sống; tại phường T, thành phố Hồ Chí Minh Công an phường xác định Danh Vị T không có nơi cư trú ổn định.
- Về nội dung xem xét: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời
khai của Danh Vị T thể hiện Danh Vị T là người nghiện ma túy từ tháng 12/2025 cho đến nay, ma túy sử dụng là ma túy đá, loại Methamphetamine nhưng không có nơi cư trú ổn định và từ chối đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện. Như vậy, Danh Vị T là đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 27, Khoản 1 Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy và khoản 1 Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025. Bản thân Danh Vị T là người đã thành niên biết tác hại của ma túy nhưng vẫn sử dụng. Việc làm này của Danh Vị T là hành vi có lỗi, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, nhất là trong tình hình hiện nay hành vi mua bán chất ma túy, tệ nạn nghiện ma túy xảy ra nhiều có diễn biến phức tạp. Do vậy, việc Trưởng Công an phường T, thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét đưa Danh Vị T đi cai nghiện bắt buộc là cần thiết, đúng pháp luật. Tuy nhiên cũng xem xét Danh Vị T có những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân như sau:
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình làm việc Danh Vị T đã tự nguyện khai báo,
thành thật hối lỗi. Đó là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025.
Từ những phân tích trên xét thấy việc đưa Danh Vị T vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc là cần thiết.
Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 18 -
Thành phố Hồ Chí Minh và Công an phường T, thành phố Hồ Chí Minh về việc đưa Danh Vị T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
đối với Danh Vị T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 14 (mười bốn)
tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại
trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định được công bố.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,
kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an phường T và Cơ sở Cai nghiện ma
túy số 4 thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Khu vực 18 - thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng CSĐT tội phạm về ma túy - Công an thành phố Hồ Chí Minh; - UBND phường T, thành phố Hồ Chí Minh; - Công an phường T, thành phố Hồ Chí Minh; - Cơ sở Cai nghiện ma túy số 4, Công an thành phố Hồ Chí Minh; - Người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Văn Quang Bảo |