vanban.org

Bản án 52/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

đối với bị cáo Trần Văn Đ.

Xử phạt: bị cáo Trần Văn Đ 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2025.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "52. Trần Văn Đ "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? đối với bị cáo Trần Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------------
Bản án số: 52/2026/HS-ST
Ngày 05-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Bình

bà Võ Thị Bời

- Thư ký phiên tòa: bà Phan Ngọc Mi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 -

Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên

tòa: ông Nguyễn Minh Thiệt - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 235/2025/TLST-HS ngày 24 tháng

12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2026/QĐXXST-HS ngày

16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Văn Đ - sinh ngày 03/11/1998 tại Thanh Hóa; Nơi đăng ký nhân khẩu

thường trú: xóm 8 (nay là thôn 2) - xã T - Thanh Hóa; Chỗ ở: không có nơi ở ổn

định; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới

tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn K (1972) và

bà Trần Thị L (chết); Tiền sự, tiền án: không; Tạm giữ, tạm giam ngày 30/8/2025;

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Nguyễn Thị L - sinh năm 1972; Vắng mặt.

Trú tại: 43 dãy B khu tập thể A đường Đ - phường N1 - Khánh Hòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bùi Trần B - sinh năm 1984

Trú tại: 01 dãy D khu tập thể A đường Đ - phường N1 - Khánh Hòa; Vắng

mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng: Lê Thị Như Q - sinh năm 1981; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 30/8/2025, Trần Văn Đ đi bộ một mình đến

khu vực Công viên bờ biển đối diện số 62 đường P - phường N - Khánh Hòa tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đ phát hiện xe máy nhãn hiệu SYM Atila biển kiểm soát 79H1-0243, màu đỏ của bà Nguyễn Thị L dựng tại Công viên, chưa rút chìa khóa, không có người trông coi. Đ liền lén lút đi đến lấy trộm xe máy rồi điều khiển xe máy nói trên đến khu vực ngã tư đường Đ và đường X - phường N1 tìm người để bán. Còn bà Nguyễn Thị L sau khi phát hiện xe máy bị mất thì đến Công an phường N trình báo. Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, bà L đến khu vực ngã tư đường Đ và đường X thì phát hiện Đ đang điều khiển xe máy của mình. Thấy vậy, bà L tri hô và cùng người dân xung quanh bắt giữ Đ và xe máy đưa về Công an phường N để làm việc.

Tại cơ quan Công an, Trần Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe

máy nêu trên. Tiến hành điều tra mở rộng xác định: ngày 29/8/2025 và 30/8/2025, Đ còn lấy trộm 02 xe đạp gồm 01 xe đạp hiệu Papylus CS6 màu đen, 01 xe đạp hiệu Akuata Ak500 màu đen tại khu vực Quảng trường 2/4 - phường N (chưa xác định được người bị hại). Sau khi lấy trộm Đ mang 02 xe đạp bán cho Bùi Trần B tại Khu tập thể A lấy 850.000đ.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 26/11/2025 của

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe máy hiệu SYM Attila, biển kiểm soát 79H1-0243 có giá trị 4.600.000đ.

Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKSKV1 ngày 19/12/2025, Viện kiểm sát nhân

dân khu vực 1 - Khánh Hòa truy tố Trần Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa giữ

nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đ từ 09 tháng tù đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, vật chứng và án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình giải quyết vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và những

người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, hồ sơ thể hiện rõ lời khai của những người này nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án,

đủ cơ sở để xác định khoảng 06 giờ 00 phút, ngày 30/8/2025, tại khu vực Công

viên bờ biển đối diện số 62 đường P - phường N - Khánh Hòa, Trần Văn Đ đã lén

lút trộm cắp 01 xe máy hiệu SYM ATTILA biển kiểm soát 79H1-0243 có giá trị

4.600.000đ của bà Nguyễn Thị L. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành

tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do

đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa truy tố bị cáo với tội danh nêu

trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình

hình an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản

của cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ. Ngoài việc bị cáo trộm cắp xe máy của

bà L, bị cáo còn khai nhận trong hai ngày 29 và 30/8/2025, bị cáo còn lấy trộm 02

xe đạp điện tại khu vực Quảng trường 2/4 (chưa xác định được bị hại). Hành vi của

bị cáo thể hiện thái độ xem thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước nên cần phải

xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe

và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại

phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo

phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả

lại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều

51 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để bị cáo

nhận thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà yên tâm cải tạo trở thành

người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại bà L vắng mặt. Tuy

nhiên, hồ sơ thể hiện bà L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên

Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng: đối với 01 xe đạp hiệu Papylus CS6 màu đen, 01 xe đạp

hiệu Akuata AK500 màu đen, bị cáo lấy trộm tại quảng trường 2/4 hiện nay cơ

quan Công an tỉnh Khánh Hòa đang xác minh bị hại. Do đó, cần giao lại 02 xe đạp

nói trên cho cơ quan Công an để tiếp tục làm rõ và xử lý theo quy định của pháp

luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự

đối với bị cáo Trần Văn Đ.

Xử phạt: bị cáo Trần Văn Đ 07 (bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2025.

Về trách nhiệm dân sự: Không xét phần trách nhiệm dân sự giữa bị cáo Trần

Văn Đ với bị hại Nguyễn Thị L.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa 01 (một) xe

đạp hiệu Papylus CS6 màu đen và 01 (một) xe đạp hiệu Akuata AK500 màu đen.

(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày

21/01/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Khánh Hòa với Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trần Văn Đ nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ

thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày

tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ