- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh Ph - Su dung trai phep chat ma tuy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh P phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2026/HS - ST Ngày 09 - 7 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bế Văn Toàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Xuân Mai và bà Thái Thị Anh Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2026/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2026/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 6 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thanh P, sinh năm 1995, tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã Q, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ; con bà Phan Thị V, sinh năm: 1964; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Không
Tiền sự: 01 (Toà án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng. Ngày 12/8/2024, bị cáo chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 13/9/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối với Phan Thanh P, thời hạn quản lý sau cai từ ngày 13/9/2024 đến 13/9/2026).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/3/2026 đến nay tại Phân trại tạm giam Buôn Ma T, Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh Đ – Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Về nhân thân: Ngày 08/6/2016, Công an thị trấn Q ra Quyết định số 11/QĐ, xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Thanh P về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 2.000.000 đồng, đã chấp hành xong quyết định.
Ngày 25/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk xét xử về tội: Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, mức hình phạt 06 tháng tù. Hiện đã chấp hành xong, đã xóa án tích.
Ngày 03/5/2019, Toà án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phan Thanh P, thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 12/2019/QĐ – TA, đã chấp hành xong Quyết định.
Ngày 30/3/2021, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ủy ban nhân dân thị trấn Q ra Quyết định số 02/QĐ – UBND ngày 16/4/2021, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Phan Thanh P thời hạn 03 tháng kể từ ngày 09/4/2021 đến 07/7/2021, đã chấp hành xong Quyết định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Phan Thị V, sinh năm 1964 (Có mặt);
Nơi cư trú: D L, thôn P, xã Q, tỉnh Đắk Lắk
+ Bà Trần Song Yến N, sinh năm 1970 (Có mặt);
Nơi cư trú: 4 H, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thanh P là đối tượng nghiện ma tuý. Ngày 08/11/2022, Phan Thanh P bị Toà án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, thời gian 24 tháng. Ngày 12/8/2024, Phan Thanh P chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, P trở về địa phương khai báo và làm bản cam kết với Chính quyền địa phương. Ngày 13/9/2024, Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Đắk Lắk) ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma tuý tại nơi cư trú đối với Phan Thanh P, thời hạn quản lý sau cai: từ ngày 13/9/2024 đến 13/9/2026. Vào khoảng 07 giờ ngày 28/02/2026, P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 47B1 – 54137 đến thành phố B (cũ) để mua ma túy về để sử dụng. Trên đường đi đến đoạn đường thuộc chợ thị trấn E (nay là xã Q, tỉnh Đắk Lắk) P vào cửa hàng bán thuốc tây ở bên đường mua 01 ống kim tiêm, mục đích làm dụng cụ để sử dụng ma túy. Sau đó, P điều khiển xe mô tô đến đoạn đường A, phường T, tỉnh Đắk Lắk để tìm người bán ma túy. Tại đây, P gặp 01 người đàn ông tên thường gọi là M (không rõ nhân thân lai lịch) và hỏi mua được của Mèo một gói ma túy loại Heroin, màu trắng, dạng bột, được gói trong giấy bạc, với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P điều khiển xe mô tô về nhà mình ở số nhà D đường L, thôn P, xã Q, tỉnh Đắk Lắk, một mình sử dụng hết số ma túy trong phòng riêng của P thì bị phát hiện, xử lý.
Tại kết luận giám định số 428/KL – KTHS ngày 03/3/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 02 ống kim tiêm (xi lanh) loại 80ml/cc, trong đó 01 ống kim tiêm có gắn kim ở phần đầu được niêm phong gửi giám định không tìm thấy ma túy. Trong mẫu nước tiểu ghi thu của Phan Thanh P (sinh năm: 1995) được niêm phong gửi giám định tìm thấy sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine (heroin).
Xét nghiệm chất ma tuý (test nhanh) đối với đối tượng, Kết quả: Phan Thanh P dương tính với ma tuý loại Morphin.
Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSDLK-KV ngày 15/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Phan Thanh P về tội sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Quá trình tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 Đắk Lắk, đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Thanh P phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Phan Thanh P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:
Đối với 02 ống xi lanh 80ml/cc, trong đó có 01 ống xi lanh có gắn kim tiêm ở phần đầu xi lanh là công cụ bị cáo dùng để phạm tội đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa, tranh luận gì, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị V và bà Trần Song Yến N không có ý kiến hay yêu cầu gì, đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ đầy đủ theo đúng thủ tục tố tụng về thu thập tài liệu chứng cứ của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra truy tố, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.
Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận:
Phan Thanh P là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú theo Quyết định số 35/QĐ – UBND ngày 13/9/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Đắk Lắk), thời hạn quản lý sau cai: từ ngày 13/9/2024 đến 13/9/2026. Vào khoảng 07 giờ ngày 28/2/2026, P đã mua 01 gói ma túy loại Heroin, màu trắng, dạng bột, được gói trong giấy bạc về số nhà D đường L, thôn P, xã Q, tỉnh Đắk Lắk, một mình sử dụng hết số ma túy trong phòng riêng của P thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Phan Thanh P đã phạm vào tội: Sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Điều 256a Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:
a) …;
b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật phòng, chống ma túy;”
Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển được hành vi của mình, biết được rằng ma tuý là loại độc dược gây nghiện, mọi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm và bị trừng trị nghiêm khắc. Song do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện.
Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây tác hại xấu về nhiều mặt cho xã hội. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt buộc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và để đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong tình hình hiện nay.
. Về nhân thân: Bị cáo Phan Thanh P có nhân thân xấu, có một tiền sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Thanh P “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Cần áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
Đối với người thanh niên tên M bán ma túy cho bị cáo P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với bà Phan Thị V (mẹ của Phan Thanh P) là chủ sở hữu của số nhà D L, thôn P, xã Q, tỉnh Đắk Lắk và chủ sở hữu của xe mô tô biển kiểm soát: 47B1 – 54137. Quá trình P sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy và đưa về số nhà D L để sử dụng thì bà V không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không đề cập xử lý đối với bà Phan Thị V là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Đối với 02 ống xi lanh 80ml/cc, trong đó có 01 ống xi lanh có gắn kim tiêm ở phần đầu xi lanh là công cụ bị cáo dùng để phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh P phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025);
Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh P 02 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 03/3/2026.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy đối với 02 ống xi lanh 80ml/cc, trong đó có 01 ống xi lanh có gắn kim tiêm ở phần đầu xi lanh là công cụ bị cáo dùng để phạm tội.
(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/6/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 – Đắk Lắk).
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Phan Thanh P phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I – TANDTC; - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan điều tra CA tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Khu vực 3; - Phòng THADS Khu vực 3; - THA hình sự; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bế Văn Toàn |