vanban.org

Bản án 52/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

(đối với Ngô Quang T1), khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (đối với Tô Văn H); khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 3 Điều 106, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23, điề…

Tuyên bố: Tô Văn H, Ngô Quang T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Tô Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 07/12/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử phạt Ngô Quang T1 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tô Văn H - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? (đối với Ngô Quang T1), khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (đối với Tô Văn H); khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 3 Điều 106, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23, điề…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2- PHÚ THỌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2026/HS-ST
Ngày: 31/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Thanh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phúc Hiếu;

2. Ông Trần Gia Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ tham gia phiên tòa:

Ông Trịnh Huy Phương- Kiểm sát viên .

Ngày 31 tháng 3 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 2 -

Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2026/HSST ngày 09/3/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2026/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Tô Văn H. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 06/10/2007

tại: tỉnh Tuyên Quang. (Thời điểm phạm tội ngày 04/9/2025, H đủ 17 tuổi 10 tháng 29 ngày; Thời điểm phạm tội ngày 17/09/2025, H đủ 17 tuổi 11 tháng 11 ngày). Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã H, tỉnh Tuyên Quang. Quốc tịch: Việt Nam;

Dân

tộc:

Cao

Lan;

Tôn

giáo:

Không. Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ: Tô Đình T, sinh năm: 1983; Mẹ đẻ: Lý Thị H1, sinh năm: 1987. Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Ngày 30/9/2022, Công an huyện S Quyết định xử phạt vi phạm hành chính

về hành vi Cố ý gây thương tích. Hình thức cảnh cáo.

+ Ngày 24/10/2022, Công an huyện S Quyết định xử phạt vi phạm hành chính

về hành vi Trộm cắp tài sản. Hình thức cảnh cáo.

+ Ngày 04/4/2023, Công an huyện S Quyết định xử phạt vi phạm hành chính

về hành vi Trộm cắp tài sản. Hình thức cảnh cáo.

+ Tại bản án số 83/2024/HSST ngày 19/8/2024 của Toà án nhân dân huyện

Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bồi thường 913.000 đồng (Đã chấp hành xong hình phạt chính ngày 14/3/2025; Chấp hành xong nghĩa vụ dân sự ngày 08/10/2024).

Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 07/12/2025 cho đến nay, hiện đang bị tạm

giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh P. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.

2. Ngô Quang T1. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày:

06/7/2005 tại: tỉnh Phú Thọ. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu A, xã B, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ: Ngô Trung K, sinh năm: 1974; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm: 1983. Vợ, con: Không. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Không. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam và bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã B, tỉnh Phú Thọ từ ngày 27/01/2026. Hôm nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1. Anh Nguyễn Tiến M, sinh năm 2002 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu E, phường P, tỉnh Phú Thọ

2. Anh Lò Khun C, sinh năm 2007 (Có mặt)

Nơi ĐKHK: Tổ 1, xã N, tỉnh Điện Biên

Nơi ở hiện tại: Khu L, phường P, tỉnh Phú Thọ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hoàng Văn K1, sinh ngày 11/11/2009 (Vắng mặt)

Trú tại: Khu Khe Thuyền 2, xã Hồng Sơn, tỉnh Tuyên Quang

2. Anh Trần Xuân Tiến, sinh ngày 06/11/2009 (Vắng mặt)

Trú tại: xã Bằng Luân, tỉnh Phú Thọ

3. Anh Trần Nhật Huy, sinh ngày 09/12/2009 (Vắng mặt)

Trú tại: xã B, tỉnh Phú Thọ.

4. Anh Nguyễn Minh H3, sinh ngày 12/05/2009 (Vắng mặt)

Trú tại: xã B, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau :

Ngày 21/9/2025, Công an phường P tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn

Tiến M, sinh năm 2002, thường trú khu E, phường P, tỉnh Phú Thọ về việc: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 17/9/2025, tại khu G, phường P, tỉnh Phú Thọ, lợi dụng sơ hở, kẻ gian đã trộm cắp của anh M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng, số máy: JA70E0138167, số khung: RLHJA3935PY099121, biển kiểm soát: 19M1-264.39, trị giá thiệt hại khoảng 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã tiến hành điều tra, xác minh và làm

rõ nội dung vụ việc như sau: Do cần tiền tiêu xài cá nhân, ngày 17/9/2025, Tô Văn H, sinh ngày 06/10/2007, thường trú thôn K, xã H, tỉnh Tuyên Quang, đã rủ Hoàng Văn K1, sinh ngày 11/11/2009, thường trú khu K, xã H, tỉnh Tuyên Quang cùng trộm cắp xe mô tô để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, K1 đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu tím than của mình (không có biển kiểm soát) chở H đến khu công nghiệp P, tỉnh Phú Thọ nhằm tìm kiếm xe mô tô sơ hở, không có người trông giữ để trộm cắp. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi Tô văn H và Hoàng Văn K1 đi đến trước cửa hàng bán quần áo, có biển hiệu “Thời trang nam, nữ, giầy dép, túi xách” có chữ “TM Store” của anh Nguyễn Tiến M ở khu G, phường P phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng, BKS: 19M1-264.39 của anh M dựng trước cửa hàng, không có người trông giữ và chìa khóa vẫn cắm tại ổ khóa điện. Lúc này, H bảo K1 “mày cho tao xuống chỗ này, rồi mày xuống chỗ đèn xanh, đèn đỏ, đợi tao vào lấy xe” sau đó H xuống xe, đi bộ lại chỗ xe mô tô của anh M đang dựng, mở khóa điện, nổ máy rồi điều khiển xe lại chỗ K1 đang chờ, rồi cùng với K1 đi thẳng về nhà H ở xã H, tỉnh Tuyên Quang. Trên đường đi, H thấy chùm chía khóa của xe mô tô vừa trộm cắp được có nhiều loại khóa điện, sợ có định vị nên H đã tháo vứt bỏ trên đường các loại khóa trên, chỉ giữ lại chiếc khóa điện của chiếc xe mô tô này, đồng thời tháo biển kiểm soát của xe cất vào trong cốp, khi sắp về đến nhà, H dừng lại đưa chiếc biển số xe mô tô trên cho K1 để K1 mang về nhà cất giấu. Sau đó, H sử dụng chiếc xe mô tô đã trộm cắp được của anh M để làm phương tiện đi lại, đến tối ngày 20/9/2025, khi đang di chuyển bằng chiếc xe máy đã trộm cắp của anh M, H bị lực lượng Công an xã H, tỉnh Tuyên Quang phát hiện có hành vi vi phạm luật giao thông và xe không có biển kiểm soát, nên đã tạm giữ chiếc xe mô tô trên sau đó bàn giao cho Công an phường P, tỉnh Phú Thọ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/09/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã tiến hành khám

xét khẩn cấp chỗ ở của Tô Văn H và Hoàng Văn K1, quá trình khám xét thu giữ tại nhà của Tô Văn H 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-233.89, thu giữ tại nhà của Hoàng Văn K1 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-264.39.

Qua đấu tranh, làm rõ nguồn gốc biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-233.89 thu

giữ tại nhà của Tô Văn H, xác định ngoài hành vi trộm cắp tài sản nêu trên, ngày 04/9/2025, Tô Văn H cùng với Trần Xuân T2, sinh ngày 06/11/2009; Nguyễn Minh H3, sinh ngày 12/05/2009; Trần Nhật H4, sinh ngày 09/12/2009; Ngô Quang T1, sinh ngày 06/7/2005, đều thường trú tại xã B, tỉnh Phú Thọ còn thực hiện trộm cắp tài sản, cụ thể: Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 03/9/2025, Trần Xuân T2, Nguyễn Minh H3, Trần Nhật H4, Ngô Quang T1 cùng về nhà Tô Văn H ở xã H, tỉnh Tuyên Quang chơi. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Tô Văn H rủ Trần Xuân T2, Nguyễn Minh H3, Trần Nhật H4, Ngô Quang T1 xuống khu công nghiệp P, tỉnh Phú Thọ để chơi và tìm kiếm xem có chiếc xe máy nào sơ hở để trộm cắp, cả nhóm đồng ý. Sau đó, Tô Văn H điều khiển xe mô tô Honda, loại xe Wave, màu đen, BKS: 19E1-187.78 của H3, chở theo sau là Nhật H4 và H3, T2 điều khiển xe mô tô Honda, loại xe Wave, màu trắng, không có biển kiểm soát của T2 chở theo sau là T1. Trên đường đi, Tô Văn H hỏi T1, H3, T2 và Nhật H4 là có biết xóm trọ nào không khóa cửa vân tay không để vào trộm cắp xe máy, thấy vậy, T1, H3, T2, Nhật H4 đã dẫn Tô Văn H đến khu nhà trọ “Cây xanh” ở khu L, phường P để trộm cắp xe máy vì T1, H3, T2, Nhật H4, từng ở trọ tại đây, biết ở khu nhà trọ này có nhiều xe máy, không có người trông coi, không có khoá cửa vân tay, dễ dàng thực hiện hành vi trộm cắp xe máy. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 04/9/2026, khi đến khu nhà trọ “Cây xanh”, Tô Văn H phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, BKS: 19M1-233.89 có chìa khoá cắm sẵn ở ổ khoá điện, đầu xe quay vào trong khu trọ, đuôi xe quay ra cổng, đang dựng dưới gốc cây trong khu vực sân khu trọ của anh Lò Khun C (sinh năm 2007, thường trú tổ A, xã N, tỉnh Điện Biên), nhận thấy không có ai trông giữ dễ dàng trộm cắp, Tô Văn H mở cổng khu nhà trọ (không có khoá), trực tiếp vào trộm cắp xe máy, còn T1, T2, H3, Nhật H4 đứng ở ngoài cổng khu nhà trọ để cảnh giới, canh chừng cho Tô Văn H nếu thấy có ai đi vào, thì báo động để cho Tô Văn H kịp thời tẩu thoát. Tô Văn H tiến lại vị trí chiếc xe máy trên, dắt lui chiếc xe máy trên ra cổng, khởi động xe, rồi cùng T1, H3, T2, Nhật H4 tẩu thoát khỏi hiện trường. Sau khi trộm cắp được chiếc xe máy kể trên, Tô Văn H, T1, T2, H3, Nhật H4 đi về nhà ở của Tô Văn H ở thôn K, xã H, tỉnh Tuyên Quang, khi đi về đến gần nhà, Tô Văn H đã đưa cho Ngô Quang T1 số tiền là 400.000 đồng, tất cả hiểu đây là số tiền mà T1, Nhật H4, T2 và H3 được hưởng khi đã đi trộm cắp xe máy cùng với Tô Văn H, số tiền này, T1, H3, T2 và Nhật H4 đã dùng đổ xăng xe máy và tiêu sài chung hết. Khi về đến nhà, Tô Văn H đã tháo biển kiểm soát chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được của anh Lò Khun C, cất giấu tại gầm cầu thang nhà ở của mình để mọi người không phát hiện ra đây là xe trộm cắp, sau đó Tô Văn H đã bán lại chiếc xe mô tô trên cho một người đàn ông không quen biết đi trên đường (Tô Văn H không nhớ địa điểm cụ thể) được số tiền là 4.500.000 đồng. Số tiền này Tô Văn H đã tiêu sài cá nhân hết. Sau khi phát hiện chiếc xe mô tô của mình đã bị kẻ gian trộm cắp, anh Lò Khun C đã trình báo đến cơ quan Công an, đề nghị cơ quan Công an điều tra làm rõ đối tượng trộm cắp xe mô tô của mình, xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã ra Yêu cầu định

giá đối với chiếc xe mô tô Honda, nhãn hiệu Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát: 19M1-264.39 do Tô Văn H và Hoàng Văn K1 trộm cắp của anh Nguyễn Tiến M. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐG ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân phường P kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, số máy: JA70E0138167; số khung: RLHJA3935PY099121. Biển kiểm soát: 19M1-264.39. Xe được mua từ năm 2023: 13.333.000 đồng”.

Ngày 12/01/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã ra Yêu cầu định

giá đối với chiếc xe mô tô Honda, nhãn hiệu Wave, màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát: 19M1-233.89 do Tô Văn H cùng Trần Xuân T2, Nguyễn Minh H3, Trần Nhật H4, Ngô Quang T1 trộm cắp của anh Lò Khun C. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐG ngày 16 tháng 01 năm 2026 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân phường P kết luận: “ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn xanh đen bạc, số máy: JA39E2464622; số khung: RLHJA392XMY439415; biển kiểm soát: 19M1-233.89. Xe đã qua sử dụng; đăng ký năm 2022: 12.333.000 đồng”.

Tại Cơ quan điều tra Tô Văn H, Ngô Quang T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Hoàng Văn K1, Trần Xuân T2, Trần Nhật H4, đồng phạm với Tô Văn

H về hành vi trộm cắp tài sản trên, thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài K1 đủ 15 tuổi 10 tháng 06 ngày, T2 đủ 15 tuổi 09 tháng 29 ngày, Nhật H4 đủ 15 tuổi 08 tháng 26 ngày, nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự, K1, T2, Nhật H4 không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình. Công an phường P đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối hành vi trộm cắp tài sản của K1, T2, N bằng hình thức cảnh cáo.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản ngày 04/9/2025 cùng với Tô Văn H của Nguyễn

Minh H3, thời điểm H3 thực hiện hành vi phạm tội đủ 16 tuổi 04 tháng 06 ngày, hiện H3 đang bị xử lý điều tra về hành vi Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 27/11/2025 tại Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã tách vụ án để điều tra xử lý riêng.

Đối với chiếc xe nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu tím than, không có biển

kiểm soát, K1 sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 17/9/2025 cùng với Tô Văn H. K1 khai mua lại của một người đàn ông (không xác định được lai lịch) tại Hà Nội với giá 4.000.000 đồng, việc mua bán không có giấy tờ. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, K1 đã bán chiếc xe trên cho một nam thanh niên (không xác định được lai lịch) khi đi chơi ở cầu K, tỉnh Tuyên Quang với giá 5.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT không thu giữ được chiếc xe trên.

Đối với chiếc xe mô tô Honda, loại xe Wave, màu trắng, không có biển kiểm

soát, Trần Xuân T2 sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 04/9/2025 cùng Tô Văn H. T2 khai xe trên là của mẹ đẻ (hiện đang xuất khẩu lao động tại nước ngoài) cho T2 sử dụng để làm phương tiện đi lại, T2 đã bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 2.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT không thu giữ được chiếc xe trên.

Đối với chiếc xe Honda, loại xe Wave, màu đen, BKS: 19E1-187.78, Nguyễn

Minh H3 sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 04/9/2025 cùng Tô Văn H, là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị H5, sinh năm 1959, thường trú khu B, xã B, tỉnh Phú Thọ. Bà H5 không biết việc H3 sử dụng xe vào mục đích phạm tội. Hiện bà H5 đang quản lý, sử dụng chiếc xe trên.

Đối với người đàn ông đã mua chiếc xe mô tô Honda, nhãn hiệu Wave, màu

sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát: 19M1-233.89 do Tô Văn H trộm cắp được của anh Lò Khun C. Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch nên không đề cập xử lý, khi nào xác định được sẽ làm rõ những nội dung liên quan là phù hợp.

Về nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích dẫn đến hành vi phạm tội:

Do muốn có tiền chi tiêu cá nhân nên các bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý, trông giữ của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra,

truy tố các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Bị cáo Tô Văn H thời điểm bị kết án tại bản án số 83/2024/HSST ngày 19/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 14/3/2025, là người chưa thành niên do đó được coi là không có án tích; Bị cáo Ngô Quang T1 chưa từng bị kết án. Do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, trước khi mở phiên tòa xét xử bị cáo Ngô Quang T1 đã tự nguyện bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho anh L Khun Chương và được anh C xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định pháp luật.

Bị cáo Ngô Quang T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

Bị cáo Tô Văn H phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về vật chứng, đồ vật, tài sản thu giữ trong vụ án:

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, số

máy: JA70E0138167; số khung: RLHJA3935PY099121 và biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-264.39, ngày 20/11/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Tiến M là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-233.89, là vật chứng của vụ án hiện

đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an tỉnh P. Được chuyển đến kho vật chứng của Thi hành án dân sự Khu vực 2, tỉnh Phú Thọ chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Tiến M đã nhận lại tài sản và không yêu

cầu đề nghị gì khác; Qúa trình điều tra, Anh Lò Khun C đề nghị bồi thường số tiền 14.500.000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Đến nay bị cáo Ngô Quang T1 đã tự nguyện bồi thường cho anh C số tiền 2.000.000 đồng.

Về điều kiện kinh tế của bị cáo: Qúa trình điều tra xác định, các bị cáo không

có tài sản gì có giá trị, không có tài sản là nhà ở và đất, bản thân không có nghề nghiệp ổn định.

Tại bản cáo trạng số 07/CT-VKSKV2 ngày 05/3/2026 của VKSND khu vực 2 -

Phú Thọ đã truy tố Tô Văn H và Ngô Quang T1 về tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ đề nghị

Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Tô Văn H, Ngô Quang T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 173 , điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1

Điều 52 BLHS; khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên, đề nghị xử phạt Tô Văn H từ 10 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 07/12/2025;

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36

BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Quang T1 từ 09 tháng đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo tính từ ngày cơ quan thi hành án nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo T1 cho UBND xã B, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 BLHS và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 3 Điều 106

BLTTHS. Trả lại cho anh L Khun Chương 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-233.89.

Về dân sự: Anh Nguyễn Tiến M đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề

nghị gì. Đối với thiệt hại tài sản của anh Lò Khun C, buộc các bị cáo Tô Văn H, Ngô Quang T1 cùng Trần Xuân T2, Nguyễn Minh H3, Trần Nhật H4 phải liên đới bồi thường tổng số tiền 12.333.000 đồng cho anh C. Chia kỷ phần Tô Văn H, Ngô Quang T1, Trần Xuân T2, Nguyễn Minh H3, Trần Nhật H4 được hưởng lợi từ việc trộm cắp chiếc xe trên. Buộc Tô Văn H phải chịu 11.223.030 đồng; Trần Xuân T2, Nguyễn Minh H3, Trần Nhật H4 và Ngô Quang T1 phải chịu chung số tiền 1.109.970 đồng. Xác nhận T1 đã tự nguyện bồi thường thay cho T2, H3, Nhật H4 và Tô Văn H số tiền 2.000.000 đồng, anh C đã nhận đủ số tiền trên. Do đó, số tiền còn lại 10.333.000 đồng, buộc bị cáo Tô Văn H tiếp tục bồi thường cho anh Lò Khun C.

Về án phí : Bị cáo Tô Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự

theo quy định của pháp luật; Bị cáo Ngô Quang T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo H, T1 khi nói lời sau cùng thừa nhận đã phạm tội, không bào chữa cho

hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H, T1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay,

lời khai nhận tội của các bị cáo thể hiện: Ngày 04/9/2025, tại khu N thuộc khu L, phường P, tỉnh Phú Thọ lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh Lò Khun C. Tô Văn H cùng với Trần Xuân T2, Nguyễn Minh H3, Trần Nhật H4, Ngô Quang T1 đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát: 19M1-233.89 có giá trị 12.333.000 đồng. Sau khi trộm cắp được tài sản, H4 đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa thu giữ được chiếc xe trên.

Tiếp đó, khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/9/2025, tại trước cửa hàng bán quần

áo của anh Nguyễn Tiến M, thuộc khu G, phường P, tỉnh Phú Thọ, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của anh M. Tô Văn H cùng Hoàng Văn K1 đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát: 19M1-264.39 của anh Nguyễn Tiến M có giá trị 13.333.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh M.

Tổng giá trị tài sản Tô Văn H trộm cắp tài sản vào ngày 04/9/2025 và ngày

17/9/2025 được xác định là 25.666.000 đồng. Đối với Nguyễn Quang T3 chịu trách nhiệm trộm cắp tài sản ngày 04/9/2025 cùng với Tô Văn H là 12.333.000 đồng.

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình

điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vật chứng thu được của vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ pháp lý kết luận bị cáo Tô Văn H, Ngô Quang T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến

dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ...”

Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của

các bị cáo gây nguy hiểm không lớn cho xã hội, với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi của các bị cáo còn gây mất an ninh trật tự xã hội trên địa bàn. Do vậy cần xử phạt các bị cáo với mức hình phạt thật nghiêm minh để các bị cáo nhận thức được tính chất nghiêm trọng và hậu quả do hành vi của mình đã gây ra, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra trước khi mở phiên tòa xét xử bị cáo Ngô Quang T1 đã tự nguyện bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho anh L Khun Chương và được anh C xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó bị cáo Tô Văn H được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Ngô Quang T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự . Do H trộm cắp 2 lần nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hình phạt tù cách ly bị cáo Tô Văn H ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để giáo dục, rèn luyện bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đối với bị cáo Ngô Quang T1 không cần thiết cách ra khỏi đời sống xã hội. Đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, đủ nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo sống tuân thủ pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung:

Tại khoản 5 Điều 173 BLHS qui định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền

từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, các bị cáo làm nghề lao động tự do, ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, các bị cáo không có tài sản giá trị. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Tại phiên tòa, anh Lò Khun C yêu cầu các bị cáo và Trần Xuân T2, Nguyễn

Minh H3, Trần Nhật H4 phải bồi thường giá trị chiếc xe các đối tượng đã trộm cắp chưa thu hồi được là 12.333.000 đồng. Sau khi trộm cắp được xe máy của anh C, Tô Văn H đã chia cho T1, T2, H3, Nhật Huy 400.000 đồng, các đối tượng đã dùng mua xăng và chi tiêu chung hết số tiền trên. Sau đó Tô Văn H bán được xe cho người đàn ông không quen biết được 4.500.000 đồng và đã chi tiêu cá nhân hết cho bản thân. Vì thế, Bị cáo Tô Văn H, Ngô Quang T1 cùng Trần Xuân T2, Nguyễn Minh H3, Trần Nhật H4 phải bồi thường cho anh C theo tỷ lệ được hưởng lợi từ việc trộm cắp chiếc xe trên. Tại phiên tòa T1 và anh C cùng nhất trí số tiền 2.000.000đ đã bồi thường cho anh C là tiền T1 bồi thường phần của T1 và bồi thường thay cho T2, Nhật H4 và H3. Tại phiên tòa anh C yêu cầu Tô Văn H phải bồi thường cho anh C số tiền còn thiếu là 10.333.000đ, yêu cầu này là phù hợp với tỷ lệ bị cáo H được hưởng lợi từ việc trộm cắp xe cần chấp nhận.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, số

máy: JA70E0138167; số khung: RLHJA3935PY099121 và biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-264.39, ngày 20/11/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Tiến M là chủ sở hữu cần xác nhận là hợp pháp.

Đối với biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-233.89, là vật chứng của vụ án hiện

đang tạm giữ tại kho vật chứng Công an tỉnh P. Được chuyển đến kho vật chứng của Thi hành án dân sự Khu vực 2, tỉnh Phú Thọ chờ xử lý. Đây là biển kiểm soát xe mô tô các bị cáo trộm cắp của anh C, do đó cần phải trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh C.

Đối với Hoàng Văn K1, Trần Xuân T2, Trần Nhật H4, đồng phạm với Tô Văn

H về hành vi trộm cắp tài sản trên, thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài K1 đủ 15 tuổi 10 tháng 06 ngày, T2 đủ 15 tuổi 09 tháng 29 ngày, Nhật H4 đủ 15 tuổi 8 tháng 26 ngày, nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự, K1, T2, Nhật H4 không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình. Công an phường P đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối hành vi trộm cắp tài sản của K1, T2, Nhật H4 bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản ngày 04/9/2025 cùng với Tô Văn H của Nguyễn

Minh H3, thời điểm H3 thực hiện hành vi phạm tội đủ 16 tuổi 04 tháng 06 ngày, hiện H3 đang bị xử lý điều tra về hành vi Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 27/11/2025 tại Đ, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã tách vụ án để điều tra xử lý riêng là phù hợp.

Đối với chiếc xe nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu tím than không có Biển

kiểm soát, K1 sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 17/9/2025 cùng với Tô Văn H. K1 khai mua lại của một người đàn ông (không xác định được lai lịch) tại Hà Nội với giá 4.000.000 đồng, việc mua bán không có giấy tờ. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, K1 đã bán chiếc xe trên cho một nam thanh niên (không xác định được lai lịch) khi đi chơi ở cầu K, tỉnh Tuyên Quang với giá 5.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT không thu giữ được chiếc xe trên.

Đối với chiếc xe mô tô Honda, loại xe Wave, màu trắng, không có biển kiểm

soát, Trần Xuân T2 sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 04/9/2025 cùng Tô Văn H. T2 khai xe trên là của mẹ đẻ (hiện đang xuất khẩu lao động tại nước ngoài) cho sử dụng để làm phương tiện đi lại, T2 đã bán cho một người đàn ông không quen biết với giá 2.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT không thu giữ được chiếc xe trên.

Đối với chiếc xe Honda, loại xe Wave, màu đen, BKS: 19E1-187.78, Nguyễn

Minh H3 sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 04/9/2025 cùng Tô Văn H, là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị H5, sinh năm 1959, thường trú khu B, xã B, tỉnh Phú Thọ. Bà H5 không biết việc H3 sử dụng xe vào mục đích phạm tội. Hiện bà H5 đang quản lý, sử dụng chiếc xe trên.

Đối với người đàn ông đã mua chiếc xe mô tô Honda, nhãn hiệu Wave, màu

sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát: 19M1-233.89 do Tô Văn H trộm cắp được của anh Lò Khun C. Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch nên không đề cập xử lý, khi nào xác định được sẽ làm rõ những nội dung liên quan là phù hợp.

Đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật; Bị cáo T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 173, điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS

(đối với Ngô Quang T1), khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (đối với Tô Văn H); khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 3 Điều 106, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23, điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Tô Văn H, Ngô Quang T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Tô Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 07/12/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xử phạt Ngô Quang T1 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo tính từ ngày cơ quan thi hành án nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo T1. Giao bị cáo T1 cho UBND xã B, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo quy định tại khoản 4 điều 36 BLHS và thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh P đã trả lại cho anh Nguyễn Tiến M 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, số máy: JA70E0138167; số khung: RLHJA3935PY099121 và biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-264.39 là hợp pháp.

Trả lại cho anh L Khun Chương: 01 (một) biển kiểm soát xe mô tô số 19M1-233.89.

(Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an tỉnh P và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Phú Thọ).

Về trách nhiệm dân sự: Buộc Tô Văn H phải chịu 11.223.030 đồng; Trần Xuân

T2, Nguyễn Minh H3, Trần Nhật H4 và Ngô Quang T1 phải chịu chung số tiền 1.109.970 đồng. Xác nhận T1 đã tự nguyện bồi thường thay cho T2, H3, Nhật H4 và Tô Văn H số tiền 2.000.000 đồng, anh C đã nhận đủ số tiền trên. Do đó, số tiền còn lại 10.333.000 đồng, buộc bị cáo Tô Văn H tiếp tục bồi thường cho anh Lò Khun C.

Kể từ ngày tuyên án, anh Lò Khun C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì Tô Văn H còn phải trả cho bị hại tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Trường hợp được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí: Bị cáo Tô Văn H, Ngô Quang T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng

(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo H phải chịu 516.000 đồng (năm trăm mười sáu nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có mặt được quyền kháng cáo; Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ