- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2026/HS-ST Ngày 23/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Sân;
Ông Vàng Văn Ngọc
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tăng Bá Vương - Kiểm sát viên Ngày 23 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:53/2026/QĐXXST-HS ngày 02/3/2026 và quyết định hoãn phiên toà số 06/2026/HSST-QĐ ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 11/02/1974;Tại: tỉnh Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT: Tổ G, phường T, tỉnh Lai Châu; CCCD số: 012074000615 cấp ngày 25/4/2021 Nơi cấp: Cục C1 – Bộ C2; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn T1 (Đã chết); con bà Lại Thị C (Đã chết). Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Đinh Huyền H, sinh năm 1986. Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2025 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 17 giờ ngày 23/10/2025, Nguyễn Văn T một mình đi bộ từ nhà thuộc tổ G, phường T, tỉnh Lai Châu đến bến xe khách tỉnh Lai Châu rồi bắt xe khách đi xuống xã B, tỉnh Lai Châu với mục đích để tìm mua Heroine sử dụng. Đến xã B, T xuống xe khách rồi đi bộ vào khu vực bản T, xã B, tỉnh Lai Châu, tại đây T gặp một người phụ nữ khoảng 60 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch, đang đứng ở vỉa hè. Qua trao đổi, T mua được của người phụ nữ này 01 gói Heroin, bên ngoài được gói bằng một mảnh nilon màu trắng đốt dính một đầu với giá 100.000 đồng, T cầm gói H1 vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay về.
Hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn T đang đi bộ trên đoạn đường V thuộc bản S, xã B, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Công an xã B, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroin mà T đang tàng trữ trái phép.
Kết luận giám định số 889/KL-KTHS ngày 25/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T có khối lượng là 0,2675 gam là ma túy, loại Heroine.
Bản Cáo trạng số 53/CT-VKS-KV1, ngày 06/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát khu vực 1 - Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 năm 04 tháng đến 03 năm 06 tháng, thời hạn tù được tính từ ngày 23/10/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Đối với 0,2675 gam Heroine đã gửi hết làm mẫu vật giám định không hoàn lại mẫu vật nên không đề nghị xem xét giải quyết. Vật chứng còn lại: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lai Châu.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 23/10/2025, tại bản S, xã B, tỉnh Lai Châu, Nguyễn Văn T đang tàng trữ trái phép 0,2675 gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã B, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn T1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 0,2675 gam Heroine thu giữ của Nguyễn Văn T đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 mảnh nilon màu trắng là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo Nguyễn Văn T khai mua của một người phụ nữ khoảng 60 tuổi, bị cáo không biết nhân thân, lai lịch gặp ở khu vực bản T, xã B, tỉnh Lai Châu, quá trình điều tra không xác định được. Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra test kiểm tra ma túy đối với mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T xác định dương tính với ma túy. Tuy nhiên bị cáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 256a Bộ luật Hình sự. Công an xã B, tỉnh Lai Châu đã tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Văn T theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/10/2025.
3. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 40 phút ngày 26/02/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Lai Châu).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND tỉnh Lai Châu; - Công an tỉnh Lai Châu (Phòng hồ sơ nghiệp vụ; CQĐT; Trại tạm giam; Cơ quan THAHS); - VKSND khu vực 1 - Lai Châu; - Phòng THADS khu vực 1 - Lai Châu; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | - - TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Thị Tuyết |