vanban.org

Bản án 52/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Th.

Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Th được ly hôn với anh Lê Văn H. Về con chung: Giao 02 con chung là Lê Thị Mỹ L, sinh ngày 25/4/2016 và Lê Thị Mỹ Ch, sinh ngày 18/9/2017 cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị T ly hôn với Lê Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Th.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - ĐĂK LĂK
TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2026/HNGĐ-ST.
Ngày: 17-7-2026.
V/v: “Kiện ly hôn và tranh
chấp nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – ĐĂK LĂK

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Vũ.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Minh.

2. Ông Nguyễn Văn Thức.

-Thư ký phiên Tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 17/7/2026 tại phòng xử án, Toà án nhân dân khu vực 8 mở phiên toà xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 73/2026/TLST-HNGĐ ngày 24/3/2026 về việc “Kiện ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2026/QĐST-HNGĐ ngày 01/6/2026 và quyết định hoãn phiên tòa số 39/2026/QĐST-HNGĐ ngày 29/6/2026, giữa:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Th, sinh năm 1986. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Số CCCD/CMND: xxxxxxxxxxxx.

Nơi cư trú: Buôn R 1, xã Krông B, tỉnh Đăk Lăk.

Bị đơn: Anh Lê Ngọc H, sinh năm 1977. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Số CCCD/CMND: xxxxxxxxxxxx.

Nơi cư trú: Số 31 Kỳ Đ, phường Cư B, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Th trình bày:

- Về quan hệ tình cảm: Chị Th và anh H về sống chung với nhau từ năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã Cư Né (nay là xã Krông Búk), tỉnh Đăk Lăk, kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, sau khi về sống chung hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng nhiều quan điểm, không tin tưởng và tôn trọng nhau, nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã, đánh đập làm mất tình cảm vợ chồng, cuối năm 2025 thì sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

- Về con chung: Chị Th và anh H có 02 con chung là Lê Thị Mỹ L, sinh ngày 25/4/2016 và Lê Thị Mỹ Ch, sinh ngày 18/9/2017, con chung hiện do chị Th nuôi dưỡng, nay ly hôn chị Th có nguyện vọng nhận nuôi 02 con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Nếu được nuôi con chị Th yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con chung.

- Về tài sản và nợ chung: Chị Th không yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án anh H là bị đơn: Cố tình lẫn tránh, không hợp tác nên không ghi nhận được ý kiến của anh H và anh H cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Th.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, Tòa án thực hiện đầy đủ và đúng trình tự theo quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự có trong hồ sơ vụ án do chủ tọa phiên tòa đã công bố tại phiên tòa thể hiện việc chị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Cho chị Th được ly hôn với anh H, tiếp tục giao 02 con chung cho chị Th nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Pháp luật về tố tụng: Việc chị Lê Thị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Ngọc Hg, Toà án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập các đương sự đến Tòa án để công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh H cố tình lẫn tránh, không hợp tác, vắng mặt không có lý do, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên Tòa án không thể tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự được mà tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi anh H cư trú. Căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

. Pháp luật về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh H về sống chung với nhau từ năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã Cư Né (nay là xã Krông Búk) theo giấy chứng nhận kết hôn số 31/2010/KH ngày 12/4/2010, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng nhiều quan điểm, không tin tưởng và tôn trọng nhau, nên xảy ra nhiều cuộc cãi vã, đánh đập làm mất tình cảm vợ chồng, cuối năm 2025 thì sống ly thân, cuộc sống chung không thể kéo dài được nữa, nay chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Căn cứ vào lời khai của chị Th và qua xác minh tại nơi chị Th và anh H sinh sống, thì chị Th và anh H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện tại hai người đã sống ly thân. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa chị Th và anh H ngày càng trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại. Vì vậy, việc chị Th yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

2.2. Về con chung: Chị Th và anh H có 02 con chung. Nhận thấy, sau khi sống ly thân chị Th là người trực tiếp nuôi con, nay ly hôn chị Th có nguyện vọng tiếp tục nuôi 02 con chung và các con chung có nguyện vọng ở với chị Th, nên cần giao 02 con chung là Lê Thị Mỹ L, sinh ngày 25/4/2016 và Lê Thị Mỹ Ch, sinh ngày 18/9/2017 cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp.

2.3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Th yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Thuỷ 2.000.000 đồng/tháng/02 con chung. Nhận thấy, con chung hiện do chị Th đang nuôi dưỡng nên việc cấp dưỡng nuôi con chung là cần thiết và mức yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp với các Điều 110, Điều 116; Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu này của chị Th.

2.4. Về tài sản và nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề cập xem xét.

. Về án phí: Chị Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Anh H phải chịu tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị Th.

1. Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị Th được ly hôn với anh Lê Văn H.

2. Về con chung: Giao 02 con chung là Lê Thị Mỹ L, sinh ngày 25/4/2016 và Lê Thị Mỹ Ch, sinh ngày 18/9/2017 cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con chung, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, phương thức cấp dưỡng hàng tháng cho đến khi các con chung đã trưởng thành đủ 18 tuổi.

Anh H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản và nợ chung: Chị Th không yêu cầu giải quyết, nên không đề cập xem xét.

5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 3 Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 19; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án;

Chị Th phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Đăk Lăk theo biên lai số 0002931 ngày 20/3/2026.

Anh H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 36, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án dân sự năm 2026.

Cỡ chữ