- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lầu Y x- Và Bá L"
- Tòa quyết gì? Quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lầu Y X và anh Và Bá L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2026/HNGĐ-ST Ngày: 27/7/2026 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thò Bá Tểnh
Ông Lữ Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo- Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khôi - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11-Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 88/2026/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lầu Y X, sinh năm 1994, căn cước: xxxxxxxxxxx (Có đơn xét xử vắng mặt).
Đăng ký thường trú: Bản H, xã N, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: Bản Trường Sơn, xã Nậm Cắn, tỉnh Nghệ An
2. Bị đơn: Anh Và Bá L, sinh năm 1992, căn cước: xxxxxxxxxxxx (Có đơn xét xử vắng mặt).
Đăng ký thường trú: Bản H, xã N, tỉnh Nghệ An. Hiện đang chấp hành án đội 4, K1, Trại giam Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Trị
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 25/5/2026 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Lầu Y X trình bày:
Về tình cảm: Chị Lầu Y X và anh V Bá Lồng tìm hiểu, yêu thương nhau và đi đến kết hôn năm 2019. Chị X và anh L đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã N, tỉnh Nghệ An) vào ngày 11/9/2019 tại số 18 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn chị X và anh L sống hạnh phúc đến tháng 18/10/2020 thì anh L đi chấp hành án phạt tù chung thân về tội Mua bán trái phép chất ma túy, hiện anh L đang chấp hành án tại Trại giam Đ, phường Đ, tỉnh Quảng Trị. Anh L đã chấp hành án được 06 năm, trong thời gian 06 năm anh L chấp hành án thì chị X vẫn thường xuyên đi thăm anh L, tuy nhiên do vợ chồng không thường xuyên gặp nhau nên lâu dần tình cảm vợ chồng rạn nứt, chị X đã hết tình cảm với anh L. Nay mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không còn chị X có nguyện vọng ly hôn với anh L để ổn định cuộc sống và công việc.
Về con chung: Chị X và anh L có 01 con chung tên cháu Và Đức B, sinh năm 13/5/2020 hiện cháu đang sống với chị X tại bản T, xã N, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn đặt ra chị X có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu B cho đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi vì hiện nay anh L đang chấp hành án nên không có khả năng để nuôi con, về cấp dưỡng: Anh L không có thu nhập nên chị X không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lầu Y X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 29 tháng 5 năm 2026 bị đơn anh Và Bá L trình bày:
Về tình cảm: Anh Và Bá L và chị L1 Y Xừ tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2019. Anh L và chị X đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND xã N, tỉnh Nghệ An) vào ngày 11 tháng 9 năm 2019 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, không có mâu thuẫn phát sinh trầm trọng, do anh L vào năm 2020 bị bắt về tội Ma túy và hiện đang chấp hành án tại trại giam Đ, từ khi đi chấp hành án thì vợ chồng mất liên lạc không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, bản thân anh L không có tương lai, chị X cũng không chờ đợi được anh L nên chị X có nguyện vọng ly hôn thì anh L đồng ý.
Về con chung: Anh Và Bá L và chị L1 Y Xừ 01 con chung là cháu Và Đức B, sinh ngày 13/5/2020 hiện cháu đang sống với chị X tại bản Trung Tâm, xã M, tỉnh Nghệ An. Do anh L hiện nay đang chấp hành án nên không đủ điều kiện để nuôi con nên nếu ly hôn thì anh L đồng ý giao cháu B cho chị X chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh L không cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn chị Lầu Y X cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lầu Y X và anh Và Bá L; Con chung: Giao cháu Và Đức B, sinh ngày 13/5/2020 cho chị L1 Y Xừ chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Và Bá L; Tài sản chung, nợ chung: Chị X và anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lầu Y X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và các lời khai của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
Thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh Và Bá L đăng ký thường trú tại bản H, xã N, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn chị Lầu Y X và bị đơn anh V Bá Lồng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 11 - Nghệ An. Nguyên đơn, Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Quan hệ hôn nhân: Chị X và anh L kết hôn với nhau vào năm 2019 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã N, tỉnh Nghệ An) cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 18 ngày 11 tháng 9 năm 2019 vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Nội dung:
Tình cảm: Quá trình giải quyết vụ án, chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, nguyên nhân chủ yếu là anh L hiện đang chấp hành án phạt tù, không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ của người chồng, đời sống chung của vợ chồng bị gián đoạn trong thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Chị X khởi kiện ly hôn thì anh L đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị X và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Lầu Y X và anh V Bá Lồng theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao.
Con chung: Chị X và anh L có 01 con chung là cháu Và Đức B, sinh ngày 13/5/2020 và chị X có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Và Đức B cho đến khi cháu trưởng thành, không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh L đồng ý giao cháu Và Đức B cho chị X chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Và Đức B, sinh ngày 13/5/2020 cho chị L1 Y Xừ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh L. Anh L được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở anh L thực hiện quyền này.
Tài sản chung, nợ chung: Chị Lầu Y X, anh Và Bá L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
Án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên miễn án phí dân sự sơ thẩm cho Nguyên đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55, Điều 57, và Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH;
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lầu Y X và anh Và Bá L.
2. Con chung: Giao con chung của nguyên đơn và bị đơn là cháu Và Đức B, sinh ngày 13/5/2020 cho chị L1 Y Xừ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh L;
- Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
4. Án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Lầu Y X.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An - VKSND khu vực 11-Nghệ An; - Phòng THADS khu vực 11, Nghệ An; - Các đương sự; - UBND xã Nhôn Mai; - Lưu Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lương Thị Ái |