vanban.org

Bản án 52/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kim Bảng, tỉnh Hà Nam Tuyên án 03/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trần Vũ Mai H, Vũ Thị Kim H1 phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan".

Xử phạt bị cáo Trần Vũ Mai H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án 03/4/2025. Xử phạt bị cáo Vũ Thị Kim H1 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án 03/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Vũ Mai H và đồng phạm - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức…"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trần Vũ Mai H, Vũ Thị Kim H1 phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ KIM BẢNG
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HS-ST
Ngày 03-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Ngọc Luân.

2. Bà Trần Thị Nhàn.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quang Tất - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Vũ Mai H, sinh năm 1984 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu P và bà Vũ Thị M; chồng là Đinh Thùy D (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2025 đến ngày 22/01/2025 được cho tại ngoại; có mặt tại phiên toà.

2. Vũ Thị Kim H1, sinh năm 1984 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã K, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đức B và bà Lê Thị T; có chồng là Trần C và có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trần Hữu Thành C, sinh năm 2006; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

2. Chị Đinh Trần Thảo M, sinh năm 2006; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường Q, thị xã K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 10/2024, cháu Đinh Trần Thảo M, sinh năm 2006 là con của Trần Vũ Mai H, sinh năm 1984, cùng nơi cư trú tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam, đi thi sát hạch cấp bằng lái xe mô tô hạng A1 nhưng do không đỗ. H đã sử dụng tài khoản Facebook “QM” của H lên mạng xã hội Facebook tìm đặt mua bằng lái xe mô tô hạng A1 cho cháu M, H thấy tài khoản Facebook “Trung tâm sát hạch lái xe” quảng cáo với nội dung có thể đặt làm bằng lái xe các loại. H nhắn tin với tài khoản Facebook “Trung tâm sát hạch lái xe” hỏi “Có thể làm bằng lái xe mô tô hạng A1 mà không cần phải thi sát hạch lái xe không”, người có tài khoản Facebook “Trung tâm sát hạch lái xe” nhắn tin “Có”. Sau đó, H nhắn tin thỏa thuận đặt mua 01 bằng lái xe mô tô hạng A1 cho cháu M với giá 900.000 đồng, người sử dụng tài khoản Facebook “Trung tâm sát hạch lái xe” yêu cầu H gửi hình ảnh căn cước công dân 2 mặt, ảnh chân dung của cháu M. H gửi ảnh và căn cước công dân của cháu M cùng số điện thoại 0974767884, địa chỉ nơi cư trú của H cho tài khoản Facebook “Trung tâm sát hạch lái xe” để khi có bằng lái xe mô tô cho cháu M thì sẽ gửi cho H qua dịch vụ chuyển phát nhanh. Sau đó Trần Vũ Mai H gọi điện thoại cho Vũ Thị Kim H1, sinh năm 1984 (là chị dâu của H) hỏi “Thằng C nhà chị có bằng lái xe máy chưa”, H1 nói “Chưa”, H nói “Em đặt mua bằng lái xe máy cho cái M, chị có đặt cho thằng C không thì em mua một thể”, H1 nói “Thế cô mua cho cháu nó một cái”, H nói “Thế chị gửi cho em ảnh chân dung với ảnh căn cước công dân hai mặt của thằng C cho em để em đặt mua”. H1 đồng ý gửi hình ảnh căn cước công dân 2 mặt và ảnh chân dung của cháu Trần Hữu Thành C, sinh năm 2006 (là con trai của H1) cho H qua Zalo để nhờ H đặt mua bằng lái xe mô tô cho cháu C. H đồng ý gửi thông tin trên của cháu C cho tài khoản Facebook “Trung tâm sát hạch lái xe” đặt mua bằng lái xe mô tô cho cháu C. Đến ngày 22/10/2024, chị Trần Thị P sinh năm 1982 là nhân viên bưu tá của Bưu điện huyện K, chuyển bưu phẩm tên người gửi là Nguyễn Văn D, địa chỉ 55/7 ấp Tân Thới, phường 24, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh, số điện thoại 0362517130 được gửi từ Bưu điện Chợ Nhỏ ở TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh, bên trong có bằng lái xe mô tô của cháu Công và cháu M cho H. Do H không có ở nhà, H đã gọi điện thoại bảo cháu M ra nhận bưu phẩm từ chị P. Sau đó, H sử dụng số tài khoản 102872911125 ngân hàng Vietinbank của H, chuyển số tiền 1.800.000 đồng đến số tài khoản 2904205336837 ngân hàng Agibank mang tên Trần Thị P để trả tiền bưu phẩm cho chị P. Sau khi nhận được bưu phẩm cháu M mở ra bên trong có 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: 350249002369 mang tên Trần Hữu Thành C, sinh ngày 02/7/2006, nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: 353249004685 mang tên Đinh Trần Thảo M, sinh ngày 05/02/2006, nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam đều do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cấp ngày 08/10/2024, do H đặt mua, cháu M đưa cho cháu C 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên C; cháu M và cháu C đều chưa sử dụng 02 giấy phép lái xe mô tô trên.

Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Vũ Thị Kim H1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 màu đen, số IMEI 1: 354491512434138, số IMEI 2: 357022902434136; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: 350249002369 mang tên Trần Hữu Thành C, sinh ngày 02/7/2006, nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cấp ngày 08/10/2024.

- Thu giữ của Trần Vũ Mai H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max màu đen, số IMEI 357278094675379; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: 353249004685 mang tên Đinh Trần Thảo M, sinh ngày 05/02/2006, nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cấp ngày 08/10/2024.

Ngày 14/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Kim Bảng trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam giám định: 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: 350249002369 mang tên Trần Hữu Thành C, sinh ngày 02/7/2006, nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: 353249004685 mang tên Đinh Trần Thảo M, sinh ngày 05/02/2006, nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam đều ghi Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cấp ngày 08/10/2024, có phải do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cấp không?.

Tại bản Kết luận giám định số 104/KL-KTHS ngày 13/02/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: 350249002369 mang tên Trần Hữu Thành C, sinh ngày 02/7/2006, nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam ghi Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cấp ngày 08/10/2024 và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số: 353249004685 mang tên Đinh Trần Thảo M, sinh ngày 05/02/2006, nơi cư trú: Tổ C, thị trấn Q, huyện K, tỉnh Hà Nam ghi Sở Giao thông vận tải tỉnh Hà Nam cấp ngày 08/10/2024 là giả.

Tại bản Cáo trạng số 63/CT-VKS-KB ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Trần Vũ Mai H về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự; bị cáo Vũ Thị Kim H1 về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Vũ Mai H từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 05 năm về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Vũ Thị Kim H1 từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23; tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 02 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Trần Hữu Thành C và Đinh Trần Thảo M.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Vũ Mai H, Vũ Thị Kim H1 đều khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên; các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tại ngoài xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời nhận tội của các bị cáo Trần Vũ Mai H, Vũ Thị Kim H1 tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập.

Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng tháng 10/2024, Sau khi được sự đồng ý của Vũ Thị Kim H1 về việc nhờ Trần Vũ Mai H đặt mua giấy phép lái xe giả cho con trai là Trần Hữu Thành Cg. H đã sử dụng tài khoản Facebook “QM” đặt mua được của tài khoản Facebook “Trung tâm sát hạch lái xe” 02 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 “Giả” cho cháu Đinh Trần Thảo M và cháu Trần Hữu Thành C với giá 1.800.000 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của cơ quan trong hoạt động quản lý hành chính, gây tâm lí hoang mang và bất bình trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, hành vi của bị cáo Trần Vũ Mai H đã phạm vào tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Vũ Thị Kim H1 đã phạm vào tội “Làm giả tài liệu của cơ quan” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về vai trò: Trong vụ án này, bị cáo Trần Vũ Mai H là người trực tiếp đặt mua giấy phép lái xe mô tô giả nên giữ vai trò chính; bị cáo Vũ Thị Kim H1 giữ vai trò đồng phạm.

Về nhân thân: Cả hai bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Cả hai bị cáo đều khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo H có ông nội được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì; bị cáo H1 có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang và Huy chương Chiến sĩ vẻ vang nên H và H1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hội đồng xét xử thấy các bị cáo Trần Vũ Mai H, Vũ Thị Kim H1 đều có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải cách li Hậu và Huế ra khỏi đời sống xã hội, chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, đồng thời cũng thể hiện chính sách nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy cả hai bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản riêng, do đó miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Đối với cháu Đinh Trần Thảo M và cháu Trần Hữu Thành C: Quá trình điều tra xác định cháu M và cháu C chưa sử dụng giấy phép lái xe mô tô do Hậu, Huế đặt mua. Do đó cơ quan điều tra không xử lý cháu M và cháu C về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Đối với người có tên Nguyễn Văn D, địa chỉ 55/7 ấp Tân Thới, phường 24, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh ghi trên bưu phẩm, bên trong chưa 02 giấy phép lái xe mô tô “Giả” gửi cho Trần Vũ Mai H. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được thông tin của người có tên Nguyễn Văn D đăng ký tạm trú, thường trú tại 55/7 ấp Tân Thới, phường 24, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh. Do vậy, Cơ quan CSĐT không có căn cứ xác minh xử lý theo quy định.

Đối với tài khoản Facebook “Trung tâm sát hạch lái xe” mà Trần Vũ Mai H liên hệ để đặt mua giấy phép lái xe giả. H không biết họ, tên tuổi, nơi cư trú, số điện thoại của người sử dụng tài khoản Facebook trên. Do đó, không có căn cứ xác định người đã sử dụng số tài khoản Facebook “Trung tâm sát hạch lái xe” đã bán 02 giấy phép lái xe mô tô “Giả” cho Trần Vũ Mai H.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 của Vũ Thị Kim H1 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max của Trần Vũ Mai H đều sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Trần Hữu Thành C và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Đinh Trần Thảo M có giá trị chứng minh tội phạm nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Vũ Mai H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Thị Kim H1. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:

1. Về hình sự: Tuyên bố các bị cáo Trần Vũ Mai H, Vũ Thị Kim H1 phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan".

- Xử phạt bị cáo Trần Vũ Mai H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án 03/4/2025.

- Xử phạt bị cáo Vũ Thị Kim H1 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án 03/4/2025.

Giao các bị cáo Trần Vũ Mai H, Vũ Thị Kim H1 cho Uỷ ban nhân dân phường Q, thị xã K, tỉnh Hà Nam giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu đen và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen. (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam).

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Vũ Mai H, Vũ Thị Kim H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cỡ chữ