vanban.org

Bản án 52/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Lê Phương Th được ly hôn với ông Phạm Văn T.

Về con chung: Giao con chung tên Phạm Lê Phúc Thịnh, sinh ngày 16/8/2023 cho Bà Lê Phương Th tiếp tục nuôi dưỡng; ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đế… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Thảo xin ly hôn với ông Thoại"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Lê Phương Th được ly hôn với ông Phạm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/8/2025
Về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm.

2. Ông Phạm Hoàng Kiệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Út Sang - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang: Vụ án không thuộc trường hợp có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

Trong ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 46/2025/TLST- HNGĐ, ngày 10 tháng 3 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXX-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2025/QĐXX-HNGĐ, ngày 25 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Phương Th, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Ấp X, xã V, tỉnh An Giang (có mặt)

Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Ấp K, xã U, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/02/2025 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn Bà Lê Phương Th trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Lê Phương Th và ông Phạm Văn T được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào đầu năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang ngày 06/02/2023. Quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, nhiều lần vợ chồng ẩu đã, đánh nhau và đã ly thân từ tháng 07/2023 đến nay. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà Th yêu cầu được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Bà Th và ông T có 01 người con chung tên Phạm Lê Phúc Thịnh, sinh ngày 16/8/2023. Khi ly hôn bà Th yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung: Bà Th trình bày không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Văn T được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, ông T cũng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ:

Nguyên đơn cung cấp: Căn cước công dân, Đơn xin xác nhận nơi cư trú, trích lục kết hôn, trích lục giấy khai sinh Phạm Lê Phúc Thịnh.

Bị đơn cung cấp: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phạm Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia xét xử nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Phạm Văn T.

. Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Th và ông T chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân giữa bà Th với ông T là hợp pháp. Tại phiên tòa, bà Th kiên quyết xin ly hôn, vì cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, ông T thường hay có hành vi bạo lực gia đình đối với bà Th, nên hôn nhân không hạnh phúc. Theo bà Th trình bày, bà Th và bà ông T đã ly đã thân từ tháng 07/2023 đến nay nhưng không thể hàn gắn cho thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Th và ông T không còn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất cho bà Th được ly hôn với ông T.

. Về con chung: Bà Th và ông T có 01 người con chung tên Phạm Lê Phúc Thịnh, sinh ngày 16/8/2023, hiện bà Th đang nuôi dưỡng. Nhận thấy, từ khi bà Th và ông T ly thân đến nay cháu Thịnh được bà Th nuôi dưỡng tốt và phát triển bình thường như bao trẻ em khác, cháu Thịnh còn dưới 36 tháng tuổi. Nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi của cháu Thịnh, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Thịnh cho bà Th tiếp tục nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chung khi ly hôn nhưng bà Th cho rằng đủ điều kiện để nuôi con vì vậy không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của ông T.

. Về chia tài sản chung: Bà Th trình bày không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Phương Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Th đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0000893 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang (Nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6, tỉnh An Giang).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

1. Về hôn nhân: Bà Lê Phương Th được ly hôn với ông Phạm Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Lê Phúc Thịnh, sinh ngày 16/8/2023 cho Bà Lê Phương Th tiếp tục nuôi dưỡng; ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà Th.

3. Về chia tài sản chung: Bà Th trình bày không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Lê Phương Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Th đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0000893 ngày 04/3/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án Dân sự Khu vực 6, tỉnh An Giang).

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ