vanban.org

Bản án 52/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Phương T.

Về hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị Phương T ly hôn với ông Diệp Văn T1. Về con chung: Giao cháu D Lê Phương T2 – sinh ngày 29/4/2011 cho bà Lê Thị Phương T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Phương T.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ QUAO
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06/6/2025.
V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.

2. Ông Lê Hữu Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 299/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 12 năm 2024, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Phương T - sinh ngày 20/11/1984, có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Diệp Văn T1 – sinh năm 1982, vắng mặt.

Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/11/2024, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Lê Thị Phương T như sau:

Vào năm 2009, bà và ông Diệp Văn T1 tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện, vợ chồng ông bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 07/6/2010.

Vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi do ông T1 không quan tâm vợ con, không lo làm ăn, còn chơi cờ bạc nên mắc nợ người ta khoảng 300.000.000 đồng, bà đã đứng ra trả hết nợ. Ông T1 nói để ổng đi làm kiếm tiền trả nợ nhưng ông T1 bỏ đi luôn từ đầu năm 2021 đến nay không về. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm với ông Diệp Văn T1 nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Diệp Văn T1.

Thời gian chung sống vợ chồng bà có 01 người con chung tên Diệp Lê Phương T2 – sinh ngày 29/4/2011, hiện nay bà đang nuôi dưỡng.

Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.

Về nợ chung: Bà cam đoan hiện vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau khi vợ chồng bà ly hôn mà có người kiện vợ chồng bà đòi nợ chung thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trả nợ chung theo quy định của pháp luật.

Nguyện vọng:

Về hôn nhân: Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Diệp Văn T1.

Về con chung: Bà yêu cầu được nuôi con chung tên Diệp Lê Phương T2 – sinh ngày 29/4/2011 và không yêu cầu ông Diệp Văn T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Diệp Văn T1 đã được Tòa án niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Diệp Văn T1 không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Diệp Văn T1.

- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa:

Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Lê Thị Phương T được ly hôn với ông Diệp Văn T1. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu D Lê Phương T2 – sinh ngày 29/4/2011 cho bà Lê Thị Phương T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Lê Thị Phương T và ông Diệp Văn T1 là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Diệp Văn T1 là bị đơn trong vụ án, ông Diệp Văn T1 có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Diệp Văn T1 vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Diệp Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Diệp Văn T1. Bà Lê Thị Phương T có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Lê Thị Phương T không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Lê Thị Phương T.

Về hôn nhân: Bà Lê Thị Phương T và ông Diệp Văn T1 tổ chức đám cưới vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện, đến năm 2010 ông bà đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 70/2010, ngày 07/6/2010, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Lê Thị Phương T và ông Diệp Văn T1 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Lê Thị Phương T và ông Diệp Văn T1 là hôn nhân tự nguyện nhưng trong quá trình sống chung đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Lê Thị Phương T cho rằng vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi do ông Diệp Văn T1 không quan tâm vợ con, không lo làm ăn, ông T1 chơi cờ bạc nên mắc nợ người ta khoảng 300.000.000 đồng, bà đã đứng ra trả hết nợ. Ông T1 nói để ông đi làm kiếm tiền trả nợ nhưng ông T1 bỏ đi từ đầu năm 2021 đến nay không về. Vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2021 đến nay. Trong thời gian ly thân bà và ông Diệp Văn T1 không thường xuyên liên lạc với nhau. Ngày 03/4/2025 và ngày 24/4/2025, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Diệp Văn T1 vắng mặt và bà Lê Thị Phương T cương quyết ly hôn với ông Diệp Văn T1. Xét thấy, vợ chồng bà Lê Thị Phương T và ông Diệp Văn T1 đã sống ly thân với nhau hơn 03 năm, trong thời gian này, ông Diệp Văn T1 và bà Lê Thị Phương T không tìm được tiếng nói chung để hàn gắn hôn nhân, khi Tòa án mời ông Diệp Văn T1 đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì ông Diệp Văn T1 không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Lê Thị Phương T cương quyết xin ly hôn với ông Diệp Văn T1 và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Diệp Văn T1, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Phương T.

Về con chung: Bà Lê Thị Phương T và ông Diệp Văn T1 có 01 người con chung tên Diệp Lê Phương T2 – sinh ngày 29/4/2011, hiện nay bà Lê Thị Phương T đang nuôi dưỡng.

Ông Diệp Văn T1 không nuôi con và không có ý kiến về quyền nuôi. Bà Lê Thị Phương T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Diệp Lê Phương T2 – sinh ngày 29/4/2011 và cháu Phương T2 có nguyện vọng sống chung với mẹ nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Phương T.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thị Phương T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị Phương T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Lê Thị Phương T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0010037, ngày 28/11/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Phương T.

Về hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị Phương T ly hôn với ông Diệp Văn T1.

Về con chung: Giao cháu D Lê Phương T2 – sinh ngày 29/4/2011 cho bà Lê Thị Phương T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Ông Diệp Văn T1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông T1 thực hiện quyền này.

Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Lê Thị Phương T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0010037, ngày 28/11/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ