vanban.org

Bản án 52/2025/DSST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Mỹ V đối với bà Lê Thị M về hợp đồng góp hụi.

Buộc bà Lê Thị M phải trả cho bà Lê Thị Mỹ V 24.000.000 đồng tiền hụi. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng bà Lê Thị M còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lê Thị Mỹ V - Lê Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Mỹ V đối với bà Lê Thị M về hợp đồng góp hụi.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2025/DSST
Ngày 05-5-2025
“V/v tranh chấp HĐ góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Tâm

2. Ông Võ Đức Huy

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Nhẩn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 72/2025/TLST- DS ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-DS ngày 09/4/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Lê Thị Mỹ V, sinh năm: 1978.(có mặt)

Địa chỉ: ấp V, xã M, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: bà Lê Thị M, sinh năm: 1985.(có mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/3/2025 và trong quá trình tố tụng của vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ V trình bày: bà Lê Thị Mỹ V làm chủ, hụi hoa hồng, bà Lê Thị M tham gia hai dây hụi, cụ thể:

Dây hụi 2.000.000 đồng, hụi mở ngày 05/6/2023 al, hụi có 26 phần bà M tham gia hai phần với tên M ở số thứ tự số 18, 19, hụi mỗi tháng khui một lần. Bà M hốt hụi kỳ thứ 8 được số tiền là 36.500.000 đồng, bà V đã giao hụi đầy đủ cho bà M, sau khi hốt hụi bà M đóng hụi đến kỳ thứ 18 thì ngưng cho đến nay. Hụi chưa mãn, hiện tại bà M nợ bà V 3 kỳ hụi chết với số tiền là 6.000.000 đồng. Còn một phần nữa bà M hốt ở kỳ thứ 13 được số tiền là 41.000.000 đồng, bà V đã giao hụi đầy đủ cho bà M, sau khi hốt hụi bà M đóng hụi đến kỳ thứ 18 thì ngưng cho đến nay. Hụi chưa mãn, hiện tại bà M nợ bà V 3 kỳ hụi chết với số tiền là 6.000.000 đồng.

Dây hụi 3.000.000 đồng, hụi mở ngày 25/3/2024 al, hụi có 13 phần bà M tham gia hai phần với tên M ở số thứ tự số 6, 7, hụi mỗi tháng khui một lần. Bà M hốt hụi kỳ thứ 2 được số tiền là 23.900.000 đồng, bà V đã giao hụi đầy đủ cho bà M, sau khi hốt hụi bà M đóng hụi đến kỳ thứ 09 thì ngưng cho đến nay. Hụi chưa mãn, hiện tại bà M nợ bà V 2 kỳ hụi chết với số tiền là 6.000.000 đồng. Còn một phần nữa bà M hốt ở kỳ thứ 4 được số tiền là 28.000.000 đồng, bà V đã giao hụi đầy đủ cho bà M, sau khi hốt hụi bà M đóng hụi đến kỳ thứ 09 thì ngưng cho đến nay. Hụi chưa mãn, hiện tại bà M nợ bà V 2 kỳ hụi chết với số tiền là 6.000.000 đồng. Tổng số tiền nợ hụi là 24.000.000 đồng.

Bị đơn bà Lê Thị M trình bày: bà M thống nhất số tiền nợ hụi như bà V trình bày là 24.000.000 đồng, hiện tại bà M đang kêu bán đất nếu bà M bán được đất thì bà M trả một lần còn nếu bà M chưa bán được đất thì bà M xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật của thẩm phán xây dựng hồ sơ đúng trình tự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử trong quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa thể hiện khách quan. Về ý kiến giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

1 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: bà Lê Thị Mỹ V yêu cầu bà Lê Thị M trả tiền nợ choàng hụi, như vậy tranh chấp giữa bà V với bà M là tranh chấp hợp đồng góp hụi. Căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm giao kết hợp đồng góp hụi, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ đang có hiệu lực thi hành nên được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

2 Xét yêu cầu khởi kiện của bà V thấy rằng: bà V làm chủ hụi, bà M tham gia hai dây hụi, mỗi dây tham gia hai phần, bà M đã hốt tất cả các dây hụi, bà V đã giao hụi đầy đủ cho bà M. Hiện tại bà M không đóng hụi chết, bà V không có khả năng choàng hụi, nên bà M nợ kỳ hụi chết nào thì bà V kiện kỳ hụi đó để gom giao cho hụi viên.

Đối với dây hụi 2.000.000 đồng, hụi khui ngày 05/6/2023 âm lịch sau khi hốt hụi bà M đóng hụi chết đến kỳ thứ 19 còn nợ hụi chết kỳ thứ 20, 21, 22 với số tiền 6.000.000 đồng mỗi dây, bà M tham gia hai dây là 12.000.000 đồng; hụi mãn ngày 05/7/2025.

Đối với dây hụi 3.000.000 đồng, hụi khui ngày 25/3/2024 âm lịch sau khi hốt hụi bà M đóng hụi chết đến kỳ thứ 10 còn nợ hụi chết kỳ thứ 11, 12 với số tiền 6.000.000 đồng mỗi dây, bà M tham gia hai dây là 12.000.000 đồng; hụi mãn ngày 25/3/2025.

Do đó bà V khởi kiện yêu cầu bà M trả cho bà V số tiền nợ hụi là 24.000.000đ là phù hợp nên được chấp nhận.

Việc bà M xin trả dần, bà V không đồng ý, do pháp luật không có quy định khác nên không thể cho bà M trả nợ dần.

Về lãi suất: tại phiên tòa bà V không yêu cầu nên không xem xét.

Tại phiên tòa, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tỉnh Long An là phù hợp nên chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì yêu cầu của bà V được chấp nhận nên bà M phải chịu toàn bộ tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 471 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Mỹ V đối với bà Lê Thị M về hợp đồng góp hụi.

Buộc bà Lê Thị M phải trả cho bà Lê Thị Mỹ V 24.000.000 đồng tiền hụi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng bà Lê Thị M còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Lê Thị M phải chịu 1.200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Lê Thị Mỹ V không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà Lê Thị Mỹ V 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009601 ngày 19/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

3. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 05 tháng 5 năm 2025.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ