| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T THÀNH PH CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52 /2024/HSST Ngày: 14 - 6 - 2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T - THÀNH PH CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Dẫn
2. Bà Thái Ánh Trinh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng –Thư ký Toà án nhân dân qu n Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân qu n Th t N t - thành ph Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Võ Hoài Thƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại tr s Tòa án nh n d n qu n Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ ti n hành xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 29/2024/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2024, theo Quy t định đưa v án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Võ Văn C - sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Võ Văn T, sinh năm 1978; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982; Vợ: Nguyễn Thị Bích T2, sinh năm 2005 (sống chung như vợ chồng); Tiền án: Chưa; Tiền sự: 02 lần:
+ Lần thứ nhất: Ngày 04/11/2022, bị Công an qu n T ra quy t định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ vũ khí thô sơ.
+ Lần thứ hai: Ngày 12/9/2023, bị Công an phường T, qu n T ra quy t định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Sử d ng trái phép chất ma túy.
Bị áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc tại Cơ s cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ từ ngày 09/11/2023 cho đ n nay. Bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Họ và tên: Lê Văn L - sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu vực T, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Hòa Hảo; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ tên cha: Lê Văn P, sinh năm 1977; Họ và tên mẹ Nguyễn Thị T3, không rõ năm sinh; Anh, em ruột có 03 người (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2007); Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị áp d ng biện pháp C1 đi khỏi nơi cư trú tại phường T, qu n T từ ngày 18/12/2023. Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Tuấn A – sinh năm 1998. Có mặt
Cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp ..
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Bích T2 – sinh năm 2005. Vắng mặt
Cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp ..
Người làm chứng:
Anh Nguyễn Hữu T4 – sinh năm 1990. Vắng mặt
Anh Nguyễn Vũ L1 – sinh năm 2002. Vắng mặt
Cùng cư trú: Khu vực T, P. T, Q. T, Tp ..
NỘI DUNG V ÁN:
ua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình x t h i, tranh lu n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 07/10/2023, Võ Văn C, Nguyễn Thị Bích T2 (sống chung như vợ chồng với C), cùng Lê Văn L, Nguyễn Hữu T4 và một số người khác nh u tại nhà của Nguyễn Vũ L1 thuộc khu vực T, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ. Khoảng 30 phút sau, Nguyễn Tuấn A đ n tham gia nh u và ngồi đối diện với vợ chồng C. Trong lúc nh u, do nghi ngờ A nháy mắt chọc ghẹo T2 nên C dẫn T2 ra phía ngoài nói chuyện thì giữa C và T2 xảy ra cự cãi. Sau đó, C tr lại tiệc nh u gặp Lê Văn L hỏi mượn con dao tự ch của L nhằm m c đích g y thương tích A. L bi t rõ C mượn con dao tự ch để g y thương tích cho người khác, nhưng L vẫn đồng ý cho mượn. L cùng với C đ n nhà trọ của L đang thuê tại khu vực T, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ để lấy con dao tự ch . Sau khi lấy được dao tự ch , C và L quay lại nhà L1, L ti p t c vào nh u còn C cầm dao tự ch đi ra phía sau nhà của L1 cất giấu và đi ra nh u ti p. C ngồi k A, cả hai nói chuyện qua lại. Trong lúc nói chuyện, C bực tức ghen tuông nên đi ra sau nhà L1 lấy con dao mượn của L tr vào tiệc nh u, từ phía sau chém trúng vào vùng tai bên trái đ n vùng thái dương chẩm trái của A 01 cái, A đứng d y gi t lấy con dao của C thì bị vấp ngã nên bị C dùng ch n đá trúng vào ngực 01 cái. Lúc này, Nguyễn Hữu T4 và mọi người có mặt tại tiệc nh u vào can ngăn, giằng co để lấy con dao từ tay C. Trong lúc giằng co T4 bị thương tích chân phải. Sau đó, C bỏ lại con dao tại hiện trường và đi bộ về nhà. Lý thấy An chảy nhiều máu nên mượn xe ch A đi bệnh viện cấp cứu.
Sự việc được trình báo Công an phường T. Cơ quan chức năng ti n hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ 01 con dao tự ch dài 66 cm. Tại cơ quan Công an, Võ Văn C và Lê Văn L đã khai nh n hành vi của mình.
Tại Bản k t lu n giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 755/KLTTCT-TTPYCT ngày 15/11/2023 của Trung tâm pháp y thành phố C k t lu n:
1. Các k t quả chính: V t thương ngang tai trái đ n vùng thái dương chẩm trái gây vỡ xương đá trái đã được điều trị. Hiện tại v t thương đã lành sẹo, vị trí vỡ xương đang can liền, không ảnh hư ng chức năng.
2. K t lu n:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 08 năm 2019 của Bộ Y quy định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử d ng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tuấn A tại thời điểm giám định là 21% (hai mươi m t phần trăm), áp d ng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Cơ ch hình thành v t thương: Thương tích trên cơ thể của Nguyễn Tuấn A phù hợp với cơ ch do v t sắc gây nên.
Về tang v t: Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tạm giữ 01 con dao tự ch dài 66 cm theo quy định.
Về trách nhiệm d n sự: Nguyễn Tuấn A yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000 đồng. Võ Văn C, Lê Văn L đồng ý mức yêu cầu của A, nhưng hiện tại chưa bồi thường. Tại Cáo trạng Số 43/CT-VKS ngày 31 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nh n d n qu n Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ, truy tố Võ Văn C, Lê Văn L về tội "C ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự.
Trong điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nh n hành vi phạm tội như K t lu n điều tra và Cáo trạng truy tố.
* Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp d ng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; 38; 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Võ Văn C. Xử phạt bị cáo Võ Văn C từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đ n 03 (ba) năm tù.
Áp d ng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; 38; 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Lê Văn L. Xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 02 (hai) năm đ n 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự, xử lý v t chứng:
Buộc bị cáo Võ Văn C bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại Nguyễn Tuấn A với số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự ch dài khoảng 66 cm là v t chứng v án.
-Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo L nói rằng đã ăn năn hối cải. Bị cáo C vắng mặt nên không có lời nói sau cùng.
NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:
[1] Về hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an qu n T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n qu n Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan; người làm chứng vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy, đơn xin xét xử vắng mặt của bị cáo C là hợp lệ với lý do chính đáng; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan; người làm chứng đã có lời khai rõ ràng, phù hợp với các chứng cứ khác. Sự vắng mặt của những người này không ảnh hư ng đ n việc giải quy t v án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 290, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ lu t Tố t ng hình sự, vẫn ti n hành xét xử v án. [3] Trong điều tra các bị cáo đã thừa nh n hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn L thống nhất nội dung Cáo trạng và nh n tội phù hợp với các chứng cứ được thu th p trong quá trình điều tra; bị cáo Võ Văn C có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra.
Như v y, có cơ s xác định vào ngày 07/10/2023, bị cáo Võ Văn C có hành vi cầm 01 con dao tự ch (do mượn của Lê Văn L) để chém nhiều nhát vào người của anh Nguyễn Tuấn A, g y thương tích cho anh A với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 21% (hai mươi mốt phần trăm). Hành vi mà Võ Văn C thực hiện trực ti p x m phạm đ n sức khoẻ của người khác được pháp lu t bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực ti p. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo sử d ng con dao tự ch là công c có khả năng g y sát thương cao và rất nguy hiểm cho tính mạng, sức khoẻ đối phương n u trúng vào vùng hiểm y u. Theo tinh thần hướng dẫn tại tiểu m c 2.2 M c 2 Phần I Nghị quy t số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003, của Hội đồng thẩm phán Toà án nh n d n Tối cao, thì công c trên đ y là hung khí nguy hiểm (Nghị quy t đã h t hiệu lực nhưng chưa có văn bản thay th nên được xem xét v n d ng trong trường hợp này). Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo Võ Văn C về tội “C ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Bị cáo Lê Văn L dù bi t được việc C mượn con dao là để nhằm chém người khác, nhưng L vẫn đồng ý cho mượn và cùng L đi lấy con dao. Hành vi của L là giúp sức cho C để g y thương tích cho người khác. Do đó, L là đồng phạm với C trong v án này, nên bị truy tố và xét xử theo cùng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp.
[4] Hành vi các bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, không những xâm hại đ n sức khỏe của người khác được pháp lu t bảo vệ, mà còn ảnh hư ng xấu đ n tình hình tr t tự địa phương. Các bị cáo là những thanh niên trẻ tuổi nhưng không lo học t p rèn luyện tr thành công dân tốt, mà học theo lối sống tiêu cực: Bị cáo C đã nhiều lần bị phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ vũ khí thô sơ, sử d ng trái phép chất ma túy; bị cáo Lý dù chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng việc tàng trữ con dao tự ch phần nào cho thấy ý định không tích cực của bị cáo. Do đó cần có hình phạt tương xứng cách ly các bị cáo khỏi xã hội mộtt thời gian để răn đe, giáo d c và phòng ngừa trong xã hội. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cho hư ng tình ti t giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự. Ngoài ra, sau khi thấy anh A bị thương tích chảy máu, lúc đó L dù không có xe nhưng vẫn mượn xe ch A đi đ n bệnh viện cấp cứu, nên cần xem xét cho L được hư ng tình ti t giảm nhẹ là đã tự nguyện khắc ph c h u quả. Khi lượng hình xét thấy vai trò, tính chất, mức độ phạm tội của C là cao hơn so với L bỡi C là người trực ti p thực hiện hành vi chém g y thương tích cho người khác, còn L chỉ là người giúp sức với vai trò thứ y u. Vì v y, Hội đồng xét xử áp d ng Điều 54 của Bộ lu t Hình sự để xử phạt bị cáo L mức án dưới khung hình phạt.
[5] Đối với việc Nguyễn Hữu T4 bị g y thương tích trong lúc can ngăn Võ Văn C, T4 cho rằng C không cố ý g y thương tích nên T4 có đơn bãi nại, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với C và không đồng ý giám định thương tích. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp này là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm d n sự và xử lý v t chứng: Như đại diện Viện kiểm sát nh n định và đề nghị là phù hợp; nên chấp nh n. [7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí phần trách nhiệm d n sự theo quy định pháp lu t.
Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;
QUYẾT Đ NH:
Tuyên bố: Các bị cáo Võ Văn C, Lê Văn L phạm tội “C ý gây thương tích”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Áp d ng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; 38; 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Văn C;
Xử phạt bị cáo Võ Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
- Áp d ng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; 38; 58; Điều 54 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Văn L;
Xử phạt bị cáo Lê Văn L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
2. Về trách nhiệm dân sự, xử lý v t chứng: Áp d ng Điều 47; 48 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015. Các Điều 584; 585; 590 của Bộ lu t Dân sự năm 2015.
- Buộc bị cáo Võ Văn C có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại Nguyễn Tuấn A với số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
- Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự ch dài khoảng 66 cm là v t chứng v án.
3. Về án phí: Áp d ng Điều 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Võ Văn C phải nộp án phí phần trách nhiệm d n sự là 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
4. Về kháng cáo: Áp d ng Điều 331, 333 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015;
Bị cáo Lê Văn L và bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo Võ Văn C và đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm y t theo quy định pháp lu t.
5. Về thi hành án d n sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, ngưòi phải thi hành án d n sự có quyền thoả thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và Điều 9 Lu t thi hành dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Lu t thi hành án dân sự.
TM. HỘI Đ NG XÉT X SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP . Cần Thơ; - VKSND Q.Thốt Nốt; - Công an Q.Thốt Nốt; - Chi c c THADS Q.Thốt Nốt; - Bị cáo…; - Lưu HS . | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Kiệt |