vanban.org

Bản án 52/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 15/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tiếp tục cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú để đảm bảo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết. Về vật chứng của vụ án: 01 cồng vàng chất lượng 99%, trọng lượng 02 chỉ đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Đoan T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tiếp tục cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú để đảm bảo thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NHA TRANG
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST
Ngày 15-3-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Viên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Bời

Ông Mai Văn Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hồng Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Châu Thị Kim Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 05/02/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 20/02/2024 đối với bị cáo:

Võ Thị Đoan Tr; sinh ngày: 18/10/1999; nơi sinh: Khánh Hòa; hộ khẩu thường trú: Tổ 2, TH, phường VT, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn 1, xã DĐ, huyện DK, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Võ Anh M, sinh năm: 1976, mẹ: Phan Thị Ngọc Q, sinh năm: 1976; chồng Nguyễn Hữu Tr1, sinh năm: 1995; có 02 con sinh năm 2018 và 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Ông Nguyễn Văn Ch, sinh năm: 1967

+ Bà Cao Thị L, sinh năm: 1970

Địa chỉ: Tổ 2, TH, phường VT, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Bà Nguyễn Thị Như Ng, sinh năm: 1988

Địa chỉ: Thôn XL, xã VN, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

+ Ông Nguyễn Hữu Tr, sinh năm: 1995

Địa chỉ: Thôn 1, xã DĐ, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Trọng Nh, sinh năm: 1997

Địa chỉ: Tổ 2, TH, phường VT, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thị Đoan Tr là con dâu và sinh sống cùng nhà với ông Nguyễn Văn Ch, thuộc tổ 2, TH, phường VT, thành phố Nha Trang. Do có nợ tiền của người khác và biết rõ vị trí tài sản mà ông Ch cất giấu nên Trang nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 28/4/2022, biết mọi người trong nhà đã đi vắng, Tr lén lút vào phòng ngủ của ông Ch tìm kiếm dưới gầm giường phát hiện 01 túi vải màu đen bên trong có 05 chiếc nhẫn vàng chất lượng 96% và 02 chiếc cồng vàng chất lượng 99%, Tr trộm cắp tất cả số vàng trên rồi mang 05 chiếc nhẫn vàng chất lượng 96% và 01 cồng vàng chất lượng 99% đến tiệm vàng tại khu vực chợ Bình Tân, thành phố Nha Trang bán được khoảng 32.000.000đ, còn 01 cồng vàng chất lượng 99% Tr mang về cất giấu trong người.

Đến ngày 01/5/2022, ông Ch phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an phường Vĩnh Trường trình báo vụ việc.

Qua xác minh, Võ Thị Đoan Tr đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của ông Ch và giao nộp cho Cơ quan công an 01 cồng vàng chất lượng 99%.

Ngoài ra, Tr khai nhận, ngoài lần trộm cắp tài sản như trên, trong tháng 4 năm 2022, tại nhà của ông Ch, Tr đã nhiều lần trộm cắp tổng cộng 68 chỉ vàng các loại gồm vàng SJC, vàng chất lượng 99% và 96%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 166/KL-HĐĐGTS ngày 30/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang kết luận: 01 cồng vàng chất lượng 99%, trọng lượng 02 chỉ, trị giá 10.950.000đ.

Đối với số vàng Tr trộm cắp rồi đem bán tại các tiệm vàng sau đó tiêu dùng hết, theo Công văn số 439/HĐĐG ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang trả lời không có cơ sở để định giá nên từ chối định giá.

Tại bản cáo trạng số 313/CT-VKSNT ngày 07/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa để xét xử đối với bị cáo Võ Thị Đoan Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Võ Thị Đoan Tr phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trang từ 09 tháng đến 01 năm tù; vật chứng: 01 cồng vàng chất lượng 99%, trọng lượng 02 chỉ đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét, giải quyết; trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết; bị cáo Tr phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Võ Thị Đoan Tr đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Văn Ch, bà Cao Thị L; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Như Ng, người làm chứng ông Nguyễn Trọng Nh, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; xét thấy các đương sự này đã có lời khai, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị Đoan Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng; các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng số 313/CT-VKSNT-HS ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Võ Thị Đoan Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo Võ Thị Đoan Tr là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm khắc, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phát huy hiệu quả phòng ngừa chung trong xã hội.

. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, an tâm cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn Ch, bà Cao Thị Lan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

. Về vật chứng của vụ án: 01 cồng vàng chất lượng 99%, trọng lượng 02 chỉ đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo Võ Thị Đoan Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Đối với số vàng Tr trộm cắp rồi đem bán tại các tiệm vàng sau đó tiêu dùng hết, theo Công văn số 439/HĐĐG ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang trả lời không có cơ sở để định giá nên từ chối định giá. Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang cũng đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm rõ số vàng trên nhưng không có kết quả nên không có căn cứ để xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thị Đoan Tr 09 (Ch) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Tiếp tục cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú để đảm bảo thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét, giải quyết.

- Về vật chứng của vụ án: 01 cồng vàng chất lượng 99%, trọng lượng 02 chỉ đã trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; buộc bị cáo Võ Thị Đoan Tr phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ