vanban.org

Bản án 52/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 26/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lưu Văn Th 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/01/2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn Thanh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM ĐẢO
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HS-ST
Ngày 26 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Hằng

Ông Lê Mạnh Quỳnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn La - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Minh Quang, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Lưu Văn Th, sinh ngày 04/10/1989 tại xã Q, huyện Đ, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Đồng Bùa, xã Q, huyện Đ, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T (Đã chết) và bà Hoàng Thị H; có vợ Dư Thị M và 03 con; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, tại đường tỉnh lộ 302 khu vực trước cửa quầy thuốc Hoàng Anh thuộc tổ dân phố Trại Mới, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Vĩnh Phúc, Tổ công tác phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang Lưu Văn Th đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: Thu tại lòng bàn tay trái của Th 02 gói được gói bằng giấy bạc mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong chứa các cục bột màu trắng (Được niêm phong ký hiệu A1); tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong gắn 01 sim có số thuê bao 0372284677.

Cùng ngày 04/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 23 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với mẫu vật ký hiệu A1. Tại Kết luận giám định số 76/KLGĐ ngày 08/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận:“Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,1468g (không phảy một bốn sáu tám gam,không kể bao bì) là ma túy; loại Heroine (Heroin).

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 =0,0864 gam mẫu cùng bao gói.

Về nguồn gốc ma túy, Th khai: Khoảng 13 giờ ngày 04/01/2024, Th đang chơi ở khu vực thị trấn Đại Đình, huyện Tam Đảo, tỉnh Phúc thì có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên sử dụng chiếc điện thoại di động gắn sim số thuê bao 0372284677 gọi vào số thuê bao 0982523293 cho Trần Văn D hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy (Heroine), D đồng ý và hẹn Th ra khu vực đầu cầu Đông Lộ để trao đổi mua bán. Sau đó, Th một mình đi ra điểm hẹn thì thấy D đi xe máy một mình đến gặp Th. Tại đây, Th đưa cho D số tiền 300.000 đồng, D cầm tiền và đưa lại cho Th 02 gói ma túy Heroine, Th cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay trái và đi tìm mua bơm kim tiêm để sử dụng. Khi Th đi đến trước cửa quầy thuốc Hoàng Anh thì bị tổ công tác phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện, bắt quả tang.

Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra đối với người bán ma tuý cho Th, xác định tại tổ dân phố Giáp Giang, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Vĩnh Phúc có người tên Trần Văn D, sinh năm 1980 như Th khai. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập người này lên làm việc để làm rõ các nội dung theo lời khai của Th nhưng chưa làm việc được do D vắng mặt tại gia đình, địa phương, hiện không biết D đang làm gì, ở đâu. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với mẫu vật ma túy do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định gồm: A1 =0,0864gam mẫu cùng bao gói cần tịch thu tiêu hủy.

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim điện thoại có số thuê bao 0372284677.

Tại cơ quan điều tra, Lưu Văn Th đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 40/CT-VKSTĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố bị cáo Lưu Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lưu Văn Th từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/01/2024.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy do Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả sau giám định gồm 0,0864g cùng toàn bộ bao gói.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim điện thoại có số thuê bao 0372284677, quá trình điều tra xác định là tài sản của Th sử dụng để liên lạc mua ma túy, là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu điện thoại bán phát mại sung quỹ nhà nước, thẻ sim cần tịch thu tiêu huỷ.

Bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Lưu Văn Th thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận: Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, tại đường tỉnh lộ 302 khu vực trước cửa quầy thuốc Hoàng Anh thuộc tổ dân phố Trại Mới, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Vĩnh Phúc, Lưu Văn Th bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, qua giám định có khối lượng 0,1468g là ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lưu Văn Th đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…

c) Heroin,… Methamphentamien có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Văn Th là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách về quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, chất gây nghiện, từ việc tàng trữ để sử dụng không những ảnh hưởng tới sức khỏe của bị cáo mà còn gây ra nhiều tệ nạn cho xã hội. Trước tình hình các tội phạm về ma túy mặc dù đã được đấu tranh, xử lý nghiêm nhưng vẫn không giảm mà có chiều hướng tăng lên, gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Do vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Quan điểm về mức hình phạt, xử lý vật chứng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo là có căn cứ phù hợp theo quy định của phát luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người có tên là Trần Văn D, sinh năm 1980 như Th khai. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập người này lên làm việc để làm rõ các nội dung theo lời khai của Th nhưng chưa làm việc được do D vắng mặt tại gia đình, địa phương, hiện không biết D đang làm gì, ở đâu. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy gồm 0,0864g cùng toàn bộ bao gói.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim điện thoại có số thuê bao 0372284677, Th sử dụng để liên lạc mua ma túy, là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu điện thoại bán phát mại sung sách Nhà nước, đối với thẻ sim cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lưu Văn Th phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Lưu Văn Th 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 04/01/2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy gồm 0,0864g cùng toàn bộ bao gói.

Tịch thu 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trong gắn sim điện thoại có số thuê bao 0372284677 của Lưu Văn Th để bán phát mại sung sách Nhà nước, đối với thẻ sim cần tịch thu tiêu huỷ.

Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao, nhận tài liệu vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo lập ngày 10 tháng 5 năm 2024.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lưu Văn Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ