vanban.org

Bản án 52/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Tô Thị Trâm O đối với ông Phạm Hoàng S.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Trâm O được ly hôn với ông Phạm Hoàng S. Về con chung: Bà Tô Thị Trâm O và ông Phạm Hoàng S có 01 con chung tên Phạm Hoàng Â, sinh ngày 07/02/2020. Giao con chung tên Phạm Hoàng  cho bà O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Tô Thị Trâm O yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Phạm Hoàng S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Tô Thị Trâm O đối với ông Phạm Hoàng S.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02/5/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Danh Tuất.

2. Ông Nguyễn Ngọc Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 477/2023/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐST – HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Tô Thị Trâm O, sinh năm: 1994 (Có đơn đề nghị xét xử mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Bị đơn: Ông Phạm Hoàng S, sinh năm: 1993 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Tô Thị Trâm O trình bày:

Bà O và ông Phạm Hoàng S xây dựng gia đình vào năm 2020 có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, hôn nhân là trên cơ sở tự nguyện. Cuộc sống chung giữa bà O và ông S hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính chất công việc của ông S đi làm xa nhà, dẫn đến chồng ngoại tình bên ngoài, việc này ông S thừa nhận với bà O và thiếu trách nhiệm với gia đình, con cái. Do vậy, từ tháng 3/2023 đến nay, trong thời gian ly thân bà O và ông S đã cố gắng hàn gắn nhưng không thành, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài nên bà O yêu cầu được ly hôn với ông Phạm Hoàng S.

- Về con chung: Bà O và ông S có 01 con chung tên Phạm Hoàng Â, sinh ngày 07/02/2020, hiện đang sống với bà O. Bà O yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà O và ông S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập ông Phạm Hoàng S đến tham gia hòa giải nhiều lần nhưng ông S vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án lập biên bản về việc vắng mặt đương sự không tiến hành hòa giải được để có cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tại các phiên tòa ông S đều vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Quan hệ tranh chấp: Bà Tô Thị Trâm O yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Phạm Hoàng S đây là quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Phạm Hoàng S có nơi cư trú tại huyện X, theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Về việc vắng mặt của đương sự: Trong quá trình tham gia tố tụng ông Phạm Hoàng S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông S vắng mặt không có lý do, bà Tô Thị Trâm O có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Vì vậy, việc xét xử vắng mặt bà O, ông S là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên: Theo Công văn số 71/CV – VKS ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, về việc không tham gia phiên tòa, vì lý do qua nghiên cứu hồ sơ cho thấy vụ án Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ và cũng không thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện X không tham gia phiên tòa xét xử vụ án nói trên. Căn cứ quy định tại Điều 232 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử khi Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Trâm O xây dựng gia đình với ông Phạm Hoàng S vào năm 2020 có đăng ký kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 05 đăng ký ngày 20/01/2020 tại UBND xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), xét đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Bà O cho rằng cuộc sống chung giữa bà O và ông S hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Bà O và ông S đã cố gắng giải quyết những mâu thuẫn giữa vợ chồng nhưng tình hình vẫn không có gì thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng.

Kết quả xác minh tại địa phương: Về tình trạng mâu thuẫn giữa bà Tô Thị Trâm O và ông Phạm Hoàng S như thế nào thì địa phương không biết do không hòa giải ở cơ sở. Bà Tô Thị Trâm O và ông S sau khi kết hôn thì không sống tại địa phương, bà O sống ở đâu địa phương không rõ. Ông S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp N, xã X, huyện X nhưng ông S đi làm thỉnh thoảng ông S vẫn về thăm gia đình (cha mẹ của ông S). Nay bà O yêu cầu ly hôn với ông S, địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của bà O cho thấy: Sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra bà O và ông S phải cùng tìm cách khắc phục những mâu thuẫn của vợ chồng để cuộc sống chung được hạnh phúc và cùng nhau nuôi dạy con cái, nhưng từ đầu năm 2023 đến nay, bà O và ông S ly thân, mạnh ai nấy sống vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau, theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình – 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải giữa bà O và ông S nhằm đoàn tụ vợ chồng nhưng không thể hòa giải được, ông S vắng mặt không lý do, thể hiện không có thiện chí hòa giải, bà O vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông S.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa bà O và ông S thật sự không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà O đối với ông S.

Về con chung: Bà Tô Thị Trâm O và ông Phạm Hoàng S có 01 con chung tên Phạm Hoàng Â, sinh ngày 07/02/2020.

Xét yêu cầu của bà O về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho thấy: Từ khi bà O nộp đơn, Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án cho đến nay, ông S không thể hiện ý kiến của mình về việc bà O có yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hiện nay con chung đang sống cùng bà O, được bà O chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung, Hội đồng xét xử giao con chung tên  cho bà O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà O không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tô Thị Trâm O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Tô Thị Trâm O phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Tô Thị Trâm O đối với ông Phạm Hoàng S.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Thị Trâm O được ly hôn với ông Phạm Hoàng S.

2. Về con chung: Bà Tô Thị Trâm O và ông Phạm Hoàng S có 01 con chung tên Phạm Hoàng Â, sinh ngày 07/02/2020. Giao con chung tên Phạm Hoàng  cho bà O được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Ông Phạm Hoàng S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Phạm Hoàng S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Tô Thị Trâm O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Bà Tô Thị Trâm O phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà O đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005159 ngày 28/12/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bà O đã nộp đủ án phí.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ