vanban.org

Bản án 52/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho bà Hồ Thị Thu H được ly hôn với ông Hoàng T.

Về con chung: Bà Hồ Thị Thu H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Hoàng Ngọc Hải A, sinh ngày 18/8/2009. Ông Hoàng T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Hoàng T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Thu H yêu cầu ly hôn với Hoàng T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho bà Hồ Thị Thu H được ly hôn với ông Hoàng T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14-8-2024
V/v “tranh chấp ly hôn, con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Ngọc Phi;

2. Ông Bùi Huy Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hiệp - Thư ký Tòa án huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Minh N - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thu H, sinh năm 1980 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Địa chỉ liên hệ: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bị đơn: Ông Hoàng T, sinh năm: 1980 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc nguyên đơn bà Hồ Thị Thu H, trình bày:

Bà Hồ Thị Thu H và ông Hoàng T yêu thương nhau rồi đi đến kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 10/10/2008 tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thời gian đầu chung sống hòa thuận hạnh phúc nhưng sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn được. Nay cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà Hồ Thị Thu H và ông Hoàng T có 01 người con chung là cháu Hoàng Ngọc Hải A, sinh ngày 18/8/2009. Bà H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Ngọc Hải A và không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị Thu H và ông Hoàng T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai và đơn trình bày ý kiến bị đơn ông Hoàng T, trình bày: Ông Hoàng T xác định giữa ông T và bà H có mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn được, ông T đồng ý ly hôn với bà H; Về con chung, ông T đồng ý giao cho bà H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Ngọc Hải A và ông T không cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Vì bận công việc nên ông T xin vắng mặt tại phiên toà, ông T đề nghị Toà án xét xử vắng mặt ông T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật về nội dung tranh chấp, thu thập đầy đủ chứng cứ và xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Hội đồng xét xử thực hiện đúng nguyên tắc xét xử trong phiên tòa sơ thẩm.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Hồ Thị Thu H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Bà Hồ Thị Thu H và ông Hoàng T có đăng ký kết hôn, nay bà H xin ly hôn nên đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Hiện bị đơn ông Hoàng T có nơi cư trú tại thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Châu Đức.

Bà Hồ Thị Thu H và ông Hoàng T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức căn cứ vào Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông T, bà H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Thu H và ông Hoàng T cùng xác nhận, giữa ông T và bà H có mâu thuẫn vợ chồng. Theo bà H thì nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, kéo dài, không thể hàn gắn được. Nay bà Hồ Thị Thu H nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Hồ Thị Thu H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Hồ Thị Thu H được ly hôn với ông Hoàng T.

Ông Hoàng T thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đồng ý ly hôn. Tuy nhiên ông T không đến tham gia hòa giải nên không thể ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông T và bà H.

Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn nhận thấy có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng của nguyên đơn và bị đơn là trầm trọng, cả hai đều không có tiếng nói chung, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà H và ông T có 01 người con chung là cháu Hoàng Ngọc Hải A, sinh ngày 18/8/2009. Bà H có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hoàng Ngọc Hải A. Bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T đồng ý với nguyện vọng nuôi con chung của bà H.

Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành lấy ý kiến, nguyện vọng của con chung là cháu Hoàng Ngọc Hải A, ghi nhận được nội dung là nguyện vọng của cháu Hoàng Ngọc Hải A được sống chung với bà Hồ Thị Thu H.

Căn cứ vào ý kiến, nguyện vọng của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền và lợi ích được bảo vệ và nhận thấy bà H có thu nhập và nơi ở ổn định, để đảm bảo quyền lợi của con chung chưa thành niên, căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình, ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về con chung giữa các đương sự, giao cho bà H được trực tiếp nuôi cháu Hoàng Ngọc Hải A.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Vì bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử nhận thấy cần ghi nhận sự tự nguyện của bà H là không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị Thu H và ông Hoàng T không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Bà Hồ Thị Thu H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Xử cho bà Hồ Thị Thu H được ly hôn với ông Hoàng T.

Về con chung: Bà Hồ Thị Thu H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Hoàng Ngọc Hải A, sinh ngày 18/8/2009. Ông Hoàng T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Hoàng T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền ngăn cản.

Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị Thu H và ông Hoàng T không yêu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Hồ Thị Thu H phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001164, ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu. Bà Hồ Thị Thu H đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14 tháng 8 năm 2024) các đương sự được quyền kháng cáo. Do bà H và ông T đều vắng mặt nên thời hạn này được tính từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết có quyền yêu cầu Toà án tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc.

Cỡ chữ