vanban.org

Bản án 52/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Mai L được ly hôn với anh Huỳnh Văn T

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Hoài T1 sinh ngày 14/12/2013 cho chị Phạm Thị Mai L nuôi dưỡng, anh Huỳnh Văn T chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Mai L - Huỳnh Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Mai L được ly hôn với anh Huỳnh Văn T
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-7-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN-TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Dương

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Văn Ánh

Ông Lê Minh Thư

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Hồ là thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân: Không tham gia phiên tòa

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mai L, sinh năm 1977 (xin vắng)

ĐKHKTT: Tổ A, khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long Tạm trú: Số J đường N, KP C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai Người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Hồ Hoài N- Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh

2.Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2024 và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phạm Thị Mai L trình bày:

Chị và anh Huỳnh Văn T đăng ký kết hôn từ ngày 16/6/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 29/2014 quyển số 01/2014

Trong quá trình chung sống đến hiện tại anh chị có 01 con chung là cháu gái tên Huỳnh Hoài T1 sinh ngày 14/12/2013 do chị trực tiếp nuôi dưỡng, dạy dỗ từ trước đến nay. Hiện cháu đang sinh sống và học tập ổn định cùng chị tại Phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Sau khi kết hôn anh chị đã đến tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Dương để sinh sống và lập nghiệp, đến hiện tại chị và anh T không còn chung sống với nhau nữa. Chị kinh doanh mua bán, chồng chị làm xây dựng thường xuyên xa nhà. Khi về nhà thường trong tình trạng say xỉn, không quan tâm đến vợ chon nên gia đình thường xảy ra mâu thuẫn. Sau đợt dịch Covid 19 anh T có nhiều thay đổi thường bỏ nhà đi, không còn quan tâm, chăm lo cho gia đình. Hiện nay chị và anh T không còn liên hệ với nhau.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, nên yêu cầu tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long giải quyết những vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: cho chị ly hôn với anh Huỳnh Văn T

Về con chung: Chị yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Huỳnh Hoài T1 sinh ngày 14/12/2013, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con

Về quan hệ tài sản: không tranh chấp, không yêu cầu tòa án giải quyết

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho anh Huỳnh Văn T nhưng hết thời gian thông báo đương sự không cung cấp văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên hòa giải cho bị đơn, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng. Như vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn cố tình vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn xin vắng mặt Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Mai L, cho chị Phạm Thị Mai L được ly hôn với anh Huỳnh Văn T, vì hiện tại anh T và chị L không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Về con chung thì yêu cầu cho chị M Liên tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huỳnh Hoài T1, vì từ nhỏ tới lớn cháu T1 do chị L chăm sóc nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung không có, nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn vắng mặt không lý do dù đã triệu tập đến lần thứ hai.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Phạm Thị Mai L về việc yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn T; về con chung có 01 người con chung, về tài sản chung, nợ chung chị T2 không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết là tranh chấp về ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn anh Huỳnh Văn T có nơi cư trú tại huyện B, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết. [2] Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Bình Tân tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tranh chấp ly hôn, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án nhân dân huyện Bình Tân không phải tiến hành thu thập chứng cứ; các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hàng xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu khởi kiện:

Về hôn nhân: Xét chị Phạm Thị Mai L và anh Huỳnh Văn T là vợ chồng hợp

pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng chị L và anh T bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Xét anh chị không còn đời sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét cuộc sống gia đình giữa chị Phạm Thị Mai L và anh Huỳnh Văn T không hạnh phúc, anh chị không dung hòa được tình cảm vợ chồng, không hàn gắn được hạnh phúc gia đình. Chị L không còn mong muốn cùng anh T xây dựng một gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Với những mâu thuẫn vợ chồng như chị đã trình bày tại phiên tòa nếu kéo dài thêm cuộc sống hôn nhân sẽ càng thêm trầm trọng thêm sự ức chế hai bên, mục đích hôn nhân không đạt được và cuộc hôn nhân này không thể kéo dài.

Xét yêu cầu của chị L xin ly hôn với anh T là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 2; Điều 19; khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L được ly hôn với anh T

Về con chung: có một con chung Huỳnh Hoài T1 sinh ngày 14/12/2013, hiện đang sống với chị Phạm Thị Mai L, cháu T1 có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét thấy hiện cháu T1 có cuộc sống ổn định nên việc chị L yêu cầu nuôi cháu T1 là có căn cứ nên được chấp nhận. Anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản: không tranh chấp nên hội đồng xét xử không đặt ra giải

quyết. [4] Về án phí: Chị Phạm Thị Mai L phải chịu theo quy định của pháp luật [5] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 2; Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 21 và Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Phạm Thị Mai L được ly hôn với anh Huỳnh Văn T

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Hoài T1 sinh ngày 14/12/2013 cho chị Phạm Thị Mai L nuôi dưỡng, anh Huỳnh Văn T chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Phạm Thị Mai L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị L đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số No 0013448 ngày 14/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân, chị L không phải nộp thêm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 5.Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ