- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Chí C phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Hà Chí C cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HSST Ngày 21 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Kha Thị Thuần;
Bà Vi Thị Khiểu.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng–Thư ký Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn–Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2023/TLST–HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2023/QĐXXST–HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với:
Bị cáo: Hà Chí C; tên gọi khác: Không; sinh ngày 07/7/1988 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: X 10, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Huy O và bà Trần Thị B; có vợ là: Võ Thị Hồng N và 01 (Một) con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2023 đến ngày 04/4/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện đang tại ngoại; Có mặt.
Bị hại: Anh Lương Văn B; sinh năm 2001; trú tại: Bản H, xã K, huyện K, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Già Bá P; sinh năm 1998; trú tại: Bản H, xã Đ, huyện K, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt (Không có lý do).
2. Bà Trần Thị B; sinh năm 1954; trú tại: X 10, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 20/3/2023, Hà Chí C điều khiển xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS BKS: 37P1- 433.27 đi vào khu vực xã K, huyện K, tỉnh Nghệ An để bán kem và thu mua sắt vụn. Khi C đi đến đoạn đường thuộc khu vực bản H2, xã K, huyện K, tỉnh Nghệ An thì thấy 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ-đen BKS: 37X2- 7106 bị hỏng bánh sau đang dựng bên đường (chiếc xe thuộc sở hữu của anh Lương Văn B, sinh năm 2001, trú tại bản H, xã K, huyện K). Quan sát xung quanh không thấy người đi lại nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy nói trên đem bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, C nhờ một nhóm học sinh đang chơi gần đó khiêng chiếc xe máy lên giá hàng phía sau chiếc xe máy của mình rồi chở đến của hàng sửa chữa xe máy ở ngã ba bản H, xã Đ, huyện K, tỉnh Nghệ An bán lại cho anh Già Bá P (chủ cửa hàng sữa chữa xe máy), sinh năm 1998, trú tại bản N, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An với số tiền là 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn). Sau khi bán chiếc xe, C tiếp tục điều khiển xe máy của mình đi về nhà trọ tại khu vực k2, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An.
Ngày 24/3/2023, anh Lương Văn B đến lấy xe để đưa đi sửa thì phát hiện chiếc xe đã bị mất trộm nên đã làm đơn trình báo tại Công an xã Keng Đu. Sau khi tiếp nhận đơn trình báo, Công an đã tiến hành xác minh và phát hiện Hà Chí C là người có dấu hiệu thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình làm việc, Hà Chí C đã thừa nhận và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 27/3/2023, Công an huyện Kỳ Sơn đã có văn bản Yêu cầu định giá tài sản số 01 gửi Hội đồng định giá tài sản- UBND huyện Kỳ Sơn để định giá đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA; kiểu xe SIRIUS; màu sơn đỏ-bạc (đổi thành màu sơn đỏ-đen); số khung 6107Y055411; số máy 5C61055411, xe đã qua sử dụng.
Kết luận định giá tài sản số 01/KL-ĐGTS ngày 03/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản-UBND huyện Kỳ Sơn, kết luận: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA; kiểu xe SIRIUS; màu sơn đỏ-bạc (đổi thành màu sơn đỏ-đen); số khung 6107Y055411; số máy 5C61055411; xe đã cũ và qua sử dụng có giá là 5.200.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu hai trăm nghìn).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, Hà Chí C đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mục đích lấy trộm chiếc xe máy là để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Về vật chứng vụ án:
01 (một) chiếc xe máy BKS: 37X2- 7106; nhãn hiệu YAMAHA; kiểu xe SIRIUS; màu sơn đỏ-bạc (đổi thành màu sơn đỏ-đen); số khung 6107Y055411; số máy 5C61055411 đã được trả lại cho chủ sở hữu là anh Lương Văn B.
01 (một) chiếc xe máy biển kiểm soát 37P1-433.27; nhãn hiệu YAMAHA; kiểu xe SIRIUS; màu sơn trắng-đen; số khung 3240HY021448; số máy E3X9E058953 mà Hà Chí C sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại anh Lương Văn B đã nhận lại chiếc xe máy của mình bị mất trộm nên không có yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Già Bá P đã nhận lại số tiền 1.300.000 đồng (đây là số tiền Phìa mua lại chiếc xe máy của C) nên không có yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 50/CT-VKS-KS ngày 24/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn đã truy tố để xét xử bị cáo Hà Chí C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Chí C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Hà Chí C từ 07 (Bảy) tháng đến 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách từ 14 (Mười bốn) tháng đến 20 (Hai mươi) tháng; về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên miễn xét; về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị hại Lương Văn B vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra đã nhận lại được tài sản, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Già Bá P vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên quá trình điều tra đã nhận lại số tiền 1.300.000 đồng dùng để mua lại chiếc xe máy của Hà Chí C, anh P không yêu cầu gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị B vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra bà Trần Thị B đã có lời khai và trình bày trong đơn xin xét xử vắng mặt: Chiếc xe máy biển kiểm soát 37P1-433.27; nhãn hiệu YAMAHA; kiểu xe SIRIUS; màu sơn trắng-đen; số khung 3240HY021448; số máy E3X9E058953 mà Hà Chí C sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản là tài sản chung của gia đình, quá trình Công sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội gia đình không được biết, do đó có nguyện vọng xin lại chiếc xe máy trên để phục vụ nhu cầu sinh hoạt đi lại của gia đình.
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Chí C đồng ý với nội dung Cáo trạng và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên; Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định pháp luật.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại Lương Văn B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị B nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Già Bá P, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ. Do đó sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo Hà Chí C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ, ngày 20/3/2023, tại khu vực bản H2, xã K, huyện K, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu, Hà Chí C đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 (một) chiếc xe máy BKS: 37X2-7106 nhãn hiệu YAMAHA; kiểu xe SIRIUS; màu sơn đỏ-bạc (đổi thành màu sơn đỏ- đen); số khung 6107Y055411; số máy 5C61055411 của anh Lương Văn B, chiếc xe có giá trị tại thời điểm mất trộm là: 5.200.000 đồng (Năm triệu hai trăm nghìn), nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền để tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, hành vi đó phải được xử lý nghiêm minh, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng bị cáo vừa răn đe phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết giảm nhẹ thấy rằng bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi nhận thấy hành vi của bản thân là sai trái, bị cáo đã tự nguyện hoàn trả, bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, quá trình giải quyết vụ án bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Hà Chí C là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27/4/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã trả lại 01 (một) chiếc xe máy BKS: 37X2-7106; nhãn hiệu YAMAHA; kiểu xe SIRIUS; màu sơn đỏ-bạc (đổi thành màu sơn đỏ-đen); số khung 6107Y055411; số máy 5C61055411, đã qua sử dụng cho phía bị hại anh Lương Văn B đồng thời bị hại không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngày 25/4/2023, bị cáo Hà Chí C đã giao cho anh Già Bá P số tiền 1.300.000 đồng là số tiền mà anh Phìa đã mua lại chiếc xe máy của C. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Già Bá P không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Chiếc xe máy biển kiểm soát 37P1- 433.27; nhãn hiệu YAMAHA; kiểu xe SIRIUS; màu sơn trắng-đen; số khung 3240HY021448; số máy E3X9E058953 mà Hà Chí C sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay xác định được đây là tài sản chung của gia đình bị cáo. Việc bị cáo Hà Chí C sử dụng xe máy đi để thực hiện hành vi phạm tội gia đình không biết nên cần trả lại chiếc xe máy cho gia đình bị cáo (đại diện gia đình là bà Trần Thị B, sinh năm 1954, trú tại X 10, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An, là mẹ của bị cáo).
Về các đối tượng liên quan: Đối với nhóm học sinh đã giúp Hà Chí C khiêng chiếc xe máy để đưa đi bán, quá trình điều tra không xác định được danh tính cụ thể nên không làm việc được
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Chí C 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/6/2023).
Giao bị cáo Hà Chí C cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hà Chí C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho gia đình bị cáo Hà Chí C (đại diện gia đình là bà Trần Thị B, sinh năm 1954, trú tại X 10, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An, là mẹ của bị cáo) 01 (Một) chiếc xe máy biển kiểm soát 37P1-433.27; nhãn hiệu YAMAHA; kiểu xe SIRIUS; màu sơn trắng-đen; số khung 3240HY021448; số máy E3X9E058953, xe có gương, có chìa khóa, không có giấy tờ xe, xe cũ đã qua sử dụng. (Vật chứng đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn vào ngày 25/5/2023).
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/6/2023). Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Kỳ Sơn; - CQTHAHS huyện Kỳ Sơn; - CCTHADS huyện Kỳ Sơn; - Bị cáo; Bị hại; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vi Thị Khuyên |