- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quý H và đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Hồng T2 , ông Trần Quang S là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đặng Quang T, ông Mai Xuân T là người đại diện theo pháp luật của bị hại Mai Xuân T1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HSPT Ngày: 19-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử Phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng.
Các thẩm phán: Ông Mai Anh Tuấn
Ông Vũ Hà Nam
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đoàn Thị Kim Phượng – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Lê Thanh Hà – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam ĐinhT hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2023/TLPT – HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Quý H và đồng phạm do có kháng cáo của bị cáo Phạm Hồng T2 , ông Trần Quang S là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đặng Quang T, ông Mai Xuân T là người đại diện theo pháp luật của bị hại Mai Xuân T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2023/HSST ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
* Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Quý H , sinh năm 2003; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn Ô 4, xã T, huyện V, tỉnh T; nghề ngH : Vận động viên thể thao; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 04-10-2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Phạm Hồng T2 , sinh ngày 20-01-2005; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Xóm 2, xã N, huyện N, tỉnh N; nghề ngH : Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Phạm Thị M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 04-10-2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Quang Bảo P , sinh ngày 19-3-2005; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn 6, xã M, huyện M, tỉnh N; nghề ngH : Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang L và bà Trần Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 04-10-2022; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Trần Đặng Quang T, sinh ngày 29-11-2005; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện M, tỉnh N; nghề ngH : Học sinh; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang S và bà Đặng Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 04-10-2022 đến ngày 16-01-2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Quang Bảo P : Ông Nguyễn Quang L (bố đẻ bị cáo), sinh năm 1968; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Thôn 6, xã M, huyện M, tỉnh N; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quang Bảo P : Bà Trần Thị Nga - Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định cử để bào chữa cho bị cáo); vắng mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đặng Quang T: Ông Trần Quang S (bố đẻ bị cáo), sinh năm 1981; nơi đăng ký thường trú và cư trú: Thôn L, xã M, huyện M, tỉnh N; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Đặng Quang T: Bà Đặng Thị Anh Thư - Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định cử để bào chữa cho bị cáo); có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Hồng T2 : Bà Đinh Thị Thanh Tâm - Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định cử để bào chữa cho bị cáo); vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Mai Xuân T1, sinh ngày 06-6-2005 (Đã chết); nơi đăng ký thường trú và cư trú trước khi chết: Thôn B, xã M, huyện M, tỉnh N.
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Mai Xuân T (bố đẻ bị hại), sinh năm 1970 và bà Trần Thị H (mẹ đẻ bị hại), sinh năm 1976
Cùng đăng ký thường trú và cư trú: Thôn B, xã M, huyện M, tỉnh N; ông T và bà Hiền có mặt tại phiên tòa.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn An Bình – Văn phòng Luật sư Nguyễn An Bình và cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết từ trước nên ngày 24-9-2022, cháu Mai Xuân T1 rủ đội của Trần Đặng Quang T đá bóng. Sau đó, cháu T1 đi đặt sân nhưng ngày 25-9-2022 phíaT không đủ người nên trận đấu không tổ chức được. Cháu T1 yêu cầuT phải trả một nửa tiền đặt sân là 100.000 đồng nhưngT không đồng ý nên cả hai xảy ra mâu thuẫn. Cháu T1 nhiều lần yêu cầuT trả tiền nhưngT không trả nên đã có lần cháu T1 đến nhàT đánh T. Sau đó,T kể lại việc này cho bạn mình là Phạm Hồng T2 và Nguyễn Quang Bảo P . T2 nghe xong bảoT để T2 giải quyết hộ. T2 sử dụng tài khoản Messenger của mình nhắn tin nói chuyện với cháu T1 về nội dung sự việc trên thì cả hai xảy ra mâu thuẫn cãi, chửi, thách thức nhau. T2 kể lại sự việc cho bạn là Nguyễn Quý H cùng là vận động viên thể thao tại Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao thuộc Sở Thể thao Văn hóa và Du lịch tỉnh Nam Định về việc T1 đang có mâu thuẫn vớiT và T2 . Do cũng có mối quan hệ vớiT nên ngày 27-9-2022 H lập nhóm chát trên ứng dụng Messenger gồm H , Tiến, T1 để nói chuyện. H bảoT trả T1 100.000 đồng và cả hai không còn mâu thuẫn gì nữa thì cả T1 vàT đều đồng ý. Cháu T1 bảo H yêu cầu T2 phải xin lỗi cháu T1. H nói: “T2 là em của anh có gì để anh dạy nó” thì cháu T1 không đồng ý và vẫn yêu cầu T2 phải xin lỗi nên H hẹn T1 19 giờ ngày 27-9-2022 đến Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao ở địa chỉ thuộc quốc lộ 10, phường L, thành phố N đểT trả tiền T1 và nói chuyện với T2 . H kể lại cuộc nói chuyện giữa H với T1 cho T2 thì T2 nói: “Em việc gì phải xin lỗi nó” nhưng vẫn đồng ý đến gặp T1. H nhắn tin lên nhóm chat FC SÚN (là nhóm đội bóng của H ) ở ứng dụng Messenger rủ mọi người 19 giờ ngày 27-9-2022 đến Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao để xem việc nói chuyện với T1. Do P cũng trong nhóm này nên đồng ý. Sau đóT tiếp tục kể lại việc mâu thuẫn với T1 cho bạn là Trần Huy H và Trần Văn K và rủ đi xem việcT trả tiền T1. Khoảng 19 giờ cùng ngàyT đi cùngK và bạn của K là Nguyễn Hồng M ; P đi cùng bạn là Đỗ Văn Sơn; H cùng T2 đi bộ từ khu nhà ở tập thể dành cho vận động viên đến trước sảnh A1 nhà thi đấu đợi T1. Tại đây, trong lúc đứng chờ, H nói với T2 , P ,T “Tí nữa nếu T1 đến lấy tiền rồi về thì thôi, nếu T1 tỏ T2 độ thì sẽ đánh dằn mặt T1”, T2 , P vàT đồng ý. Cả nhóm đứng đợi đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày không thấy T1 đến nên tất cả đi về. Lúc này, Trần Huy H và Trần Duyên P chở nhau bằng xe máy đi chơi thì gặp T1 đang đi bộ trên đường T, phường L, thành phố N. H hỏi T1 đã gặp nhóm củaT để nói chuyện chưa thì T1 nói đã đến nhưng không gặp. H lấy điện thoại gọi choT rồi đưa máy để T1 nói chuyện với T. Sau đó T1 nhờ H và P chở đến chỗ hẹn.T gọi điện thông báo cho H và T2 về việc T1 đang đến và bảo H , T2 quay lại chỗ hẹn. H nhắn tin gọi P rồi tất cả những người trên quay lại chỗ hẹn. Lúc này có thêm Đỗ Thanh T là bạn của H cũng đến xem. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T1, H và P đi đến chỗ hẹn gặp nhóm của H . Tại đây, T2 ,T và T1 ra nói chuyện với nhau. P đứng ngang bên tay phải của T1 cách T1 khoảng 03 m. H đứng phía sau bên trái T1 cách T1 khoảng 04 m. Những người còn lại đứng xung quanh T1.T2 nói: “Bây giờ tiền sân mỗi bên chịu một nửa,T trả nó 100.000 đồng đi”.T đưa 100.000 đồng trả T1. T2 nói: “Vậy là xong nhé” thì T1 yêu cầu T2 phải xin lỗi T1. T2 không đồng ý thì T1 nói: “Vậy mày đợi anh tao đến nói chuyện với mày”. T2 chửi: “Đ.mẹ mày gọi anh mày đến đây”. Lúc này T2 đứng đối diện liền dùng tay trái đấm 01 phát trúng ngực T1, P chạy đến cầm mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai bằng nhựa ở gần đó đập 01 phát từ sau ra trước, từ trái sang phải trúng vùng đầu sau gáy T1. T2 tiếp tục dùng chân trái đá ngang 01 phát từ trái sang phải trúng bụng T1 rồi dùng tay phải túm cổ áo T1 kéo lại nói: “Ngày trước mày đánh thằngT như nào thì bây giờ thằngT đánh lại mày như vậy” rồi T2 gọiT đến nói: “Trước nó đánh mày như nào thì mày đánh lại nó như vậy”. T2 buông tay đang túm cổ áo T1 ra,T lao đến dùng tay phải đấm 01 phát từ phải sang trái trúng má trái T1. P cầm chiếc mũ bảo hiểm ném 01 phát trúng vai phải T1. T2 tiếp tục dùng chân phải đạp thẳng 01 phát từ sau ra trước trúng phần thắt lưng T1. Bị đánh, T1 lùi ra phía cổng thì H chạy theo kéo người T1 lại, đứng đối diện T1 và nói: “Mày thích gọi anh nào đến à?”. Lúc này P lấy chiếc mũ bảo hiểm vừa ném T1 bị rơi xuống đất lên cầm ở tay phải đập 01 phát trúng má trái của T1. H đứng đối diện T1 dùng chân phải đá vòng cầu 01 phát từ dưới lên trên, từ phải sang trái trúng phần má trái của T1 làm T1 lảo đảo lùi lại phía sau rồi từ từ ngã nằm úp mặt xuống sân. Trong quá trình H , T2 , P ,T đánh T1 thì Trần Huy H , Trần Duyên P , Trần Văn K, Đỗ Văn S, Nguyễn Hồng M , Đỗ Thanh T đứng rải rác xung quanh xem không ai có hành vi tham gia hay có lời nói gì xúi giục, kích động đánh T1. Khi thấy cháu T1 không có phản xạ gì thì cả H , T2 chạy đến đưa ngón tay vào miệng T1 để T1 không tự cắn vào lưỡi và vảy nước vào mặt mục đích để cháu T1 tỉnh lại nhưng cháu T1 không có phản xạ gì nên cả nhóm đưa T1 vào nằm nghỉ tại sảnh A1. Khoảng vài phút sau thấy T1 bị nôn ra máu nênT cùng Đỗ Thanh T đi xe máy chở T1 đến Bệnh viện đa khoa S cấp cứu. Sau đó cháu T1 được gia đình chuyển sang Bệnh viện đa khoa tỉnh N rồi chuyển lên Bệnh viện hữu nghị V– H, bệnh viện đa khoa T để điều trị.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 307/22/TgT ngày 04-10-2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Hà Nam kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 31%. Cơ chế hình thành vết thương: Chấn thương sọ não do tác động mạnh với vật tày gây nên.
Đến ngày 12-10-2022, bị hại Mai Xuân T1 tử vong. Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1489 ngày 08-11-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Nạn nhân Mai Xuân T1 chết do chấn thương sọ não, chảy máu nội sọ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quý H , Nguyễn Quang Bảo P , Phạm Hồng T2 , Trần Đặng Quang T khai nhận toàn bộ hành vi của mình và đồng phạm.
Quá trình điều tra, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự.
Chiếc mũ bảo hiểm Nguyễn Quang Bảo P sử dụng để đánh cháu Mai Xuân T1, P để lại tại hiện trường, quá trình điều tra không thu giữ được.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51/2023/HSST ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã quyết định:
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quý H , Nguyễn Quang Bảo P , Phạm Hồng T2 , Trần Đặng Quang T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
2. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quý H 08 (tám) năm tù.
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04-10-2022.
3. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Phạm Hồng T2 05 (năm) năm tù.
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04-10-2022.
4. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Bảo P 05 (năm) năm tù.
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04-10-2022.
5. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Đặng Quang T 04 (bốn) năm tù.
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 04-10-2022 đến ngày 16-01-2023 được trừ vào thời gian chấp hành án).
Ngoài ra bản án sơ thẩm quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
* Ngày 15/3/2023 bị cáo Phạm Hồng T2 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 08/3/2023 ông Trần Quang S là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đặng Quang T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Đặng Quang T.
Ngày 10/3/2023 ông Mai Xuân T là người đại diện theo pháp luật của bị hại Mai Xuân T1 kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm huỷ án sơ thẩm và trả hồ sơ để điều tra xét xử lại.
* Tại phiên toà Phúc thẩm các bị cáo khai báo về nội dung sự việc phạm tội đúng như nội dung đã nêu trên.
Bị cáo T2 và ông S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T2 và bị cáo T1 ; ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị huỷ án sơ thẩm và trả hồ sơ để điều tra xét xử lại.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung vì cơ quan điều tra có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, cụ thể: Cơ quan điều tra đã không thu giữ hình ảnh camera ghi lại diễn biến nội dung sự việc tại Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể thao tỉnh N xảy ra vào ngày 27-9-2022 để xác định những ai tham gia đánh cháu T1 và đánh vào vị trí nào trên cơ thể cháu T1; không có biên bản về việc không thu giữ được camera có chữ ký của Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể thao tỉnh N; không lấy lời khai của những người làm chứng trong đội bóng N đã đến xem sự việc; không thu giữ điện thoại của các bị cáo để xác định các bị cáo đã nhắn tin cho nhau, để xác định ai là người chủ mưu trong vụ án; làm rõ việc các bị cáo có nhận thức được hành vi của mình có khả năng làm chết người mà vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra muốn sao cũng được, nếu hậu quả là gây thương tích thì định tội “Cố ý gây thương tích”, nếu hậu quả là chết người thì hành vi của các bị cáo phải được điều tra xem có dấu hiệu phạm tội “Giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thay đổi tội danh từ “Cố ý gây thương tích” sang tội “Giết người”.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T2 , ông S và ông Tứ; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Hồng T2 , ông Trần Quang S là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đặng Quang T, ông Mai Xuân T là người đại diện theo pháp luật của bị hại Mai Xuân T1 làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Nội dung: Xuất phát từ việc mâu thuẫn giữa cháu Mai Xuân T1 và Trần Đặng Quang T về việc trả tiền thuê sân đá bóng, cháu Mai Xuân T1 yêu cầu Trần Đặng Quang T phải trả tiền thuê sân là 100.000 đồng. Vì Trần Đặng Quang T không trả 100.000 đồng cho cháu Mai Xuân T1 nên có lần cháu Mai Xuân T1 đã đến nhà Trần Đặng Quang T đánh T. Sau đó,T kể lại việc này cho bạn mình là Phạm Hồng T2 và Nguyễn Quang Bảo P . T2 bảoT để T2 giải quyết hộ. T2 sử dụng mạng xã hội facebook nhắn tin cho T1 nói chuyện thì cả hai xảy ra mâu thuẫn cãi, chửi, thách thức nhau. T2 kể lại sự việc cho bạn là Nguyễn Quý H . Do cũng có mối quan hệ vớiT nên H lập nhóm chát trên Messenger gồm H , Tiến, T1 để nói chuyện và bảoT trả T1 100.000 đồng và hai bên không còn mâu thuẫn gì nữa,T và T1 đồng ý nhưng cháu T1 vẫn yêu cầu Phạm Hồng T2 phải xin lỗi. H hẹn T1 tối ngày 27-9-2022 đến Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao ở địa chỉ thuộc quốc lộ 10, phường L, thành phố N đểT trả tiền T1. Vào tối ngày 27-9-2022 tại Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao, trong khi chờ T1 đến H nói với T2 , P , T; “Tý nữa nếu T1 đến lấy tiền rồi về thì thôi, nếu T1 tỏ T2 độ thì sẽ đánh dằn mặt T1”, cả Tiến, T2 , P đồng ý. Hôm đó các bị cáo không chuẩn bị hung khí gì để đánh cháu T1. Khoảng hơn 20 giờ ngày 27-9-2022, sau khi Trần Đặng Quang T trả cho cháu Mai Xuân T1 100.000 đồng thì cháu T1 yêu cầu Phạm Hồng T2 phải xin lỗi mình. Do có mâu thuẫn từ trước nên Phạm Hồng T2 dùng tay trái đấm một cái trúng ngực, chân trái đá một cái trúng bụng, dùng chân phải đạp một cái trúng hông cháu Mai Xuân T1; Nguyễn Quang Bảo P dùng mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai bằng nhựa vụt một cái trúng vùng đầu phía sau gáy sau đó ném chiếc mũ bảo hiểm này trúng vai phải, dùng mũ bảo hiểm vụt một cái trúng má trái cháu T1; Trần Đặng Quang T dùng tay phải đấm một cái trúng má trái cháu T1; Nguyễn Quý H dùng chân phải đá một cái trúng phần má trái của cháu T1. Hậu quả cháu T1 bị ngã và không có phản ứng gì. Sau đó Nguyễn Quý H và Phạm Hồng T2 đã sơ cứu cho cháu T1 nhưng cháu T1 vẫn không tỉnh. Trần Đặng Quang T đã đưa cháu T1 đến bệnh viện cấp cứu và đến ngày 12-10-2022 cháu T1 tử vong.
Từ nội dung trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Quý H , Nguyễn Quang Bảo P , Phạm Hồng T2 , Trần Đặng Quang T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và xử phạt Nguyễn Quý H 08 năm tù, Nguyễn Quang Bảo P 05 năm tù, Phạm Hồng T2 05 năm tù, Trần Đặng Quang T 04 năm tù.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo T2 và ông Sỹ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Phạm Hồng T2 , Trần Đặng Quang T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để xử phạt bị cáo T2 05 năm tù, bị cáoT 04 năm tù là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới vì vậy không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T2 và Tiến.
Xét kháng cáo của người đại diện theo pháp luật của bị hại.
- Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đãT hành lập biên bản kiểm tra xác định hiện trường tại nơi xảy ra vụ việc, biên bản lập ngày 28-9-2022 (bút lục 85-86) có đại diện Trung tâm huấn luyện thể dục thể thao tỉnh Nam Định ký thể hiện nội dung: Không có camera an ninh nào quay được hình ảnh hiện trường vụ việc; không thu giữ hình ảnh camera an ninh tại hiện trường.
- Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo H , T2 vàT đều khai thống nhất là các bị cáo chỉ nhắn tin cho nhau về việc mâu thuẫn trả tiền đặt sân đá bóng chứ không nhắn tin nào có nội dung về việc sẽ đánh cháu T1; ngày 27-9-2022 sau khi cháu T1 yêu cầu Phạm Hồng T2 xin lỗi các bị cáo mới đánh cháu T1; sau khi xảy ra sự việc các bị cáo đã xóa tin nhắn trong điện thoại. Mặt khác, bản phô tô nội dung tin nhắn giữa cháu Mai Xuân T1 và bị cáo Phạm Hồng T2 (do người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại nộp) cũng chỉ thể hiện việc T2 và cháu T1 nói chuyện với nhau xoay quanh việc trả tiền đặt sân đá bóng giữa cháu T1 và Tiến, hai bên có một số lời lẽ thô tục chửi bới thách thức nhau chứ không có tin nhắn nào thể hiện T2 và đồng bọn đe dọa giết cháu T1.
- Các bị cáo khai sau khi các bị cáo đánh cháu T1 thì có một số người trong ở Trung tâm thể dục thể thao đến xem, cơ quan điều tra đã lấy lời khai của người làm chứng là Trần Văn Long - huấn luyện viên dạy bộ môn võ Wushu và Trần Anh T - vận động viên đào tạo bóng đá tỉnh N và Nguyễn Văn M - vận động viên Wushu tại Trung tâm huấn luyện và thi đấu thể dục thể thao tỉnh N. Ngoài ra cơ quan điều tra cũng đã lấy lời khai của những người là bạn bè của bị cáo và bị hại có mặt chứng kiến sự việc hôm đó là Trần Huy H , Trần Duyên P , Trần Văn K, Đỗ Văn S, Nguyễn Hồng M , Đỗ Thanh T. Lời khai của những người làm chứng phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa.
- Việc xác định ai là người chủ mưu trong vụ án và làm rõ việc các bị cáo có nhận thức được hành vi của mình có khả năng làm chết người mà vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra muốn sao cũng được: Xét thấy các bị cáo khai tối ngày 27-9-2022 sau khi Nguyễn Quý H nói: “Tý nữa nếu T1 đến lấy tiền rồi về thì thôi, nếu T1 tỏ T2 độ thì sẽ đánh dằn mặt T1”, các bị cáo nghĩ chỉ đánh cháu T1 để cảnh cáo, vì thế các bị cáo đã không chuẩn bị hung khí gì đem theo để đánh cháu T1; sau khi bị đánh thấy cháu T1 không có phản ứng gì các bị cáo đã sơ cứu và đưa cháu T1 đi bệnh viện cấp cứu. Các bị cáo không nghĩ hậu quả cháu T1 tử vong, việc cháu T1 tử vong là hậu quả các bị cáo không mong muốn và không thể nhận thức được.
Từ sự phân tích nhận định nêu trên xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Hồng T2 , ông Trần Quang S là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đặng Quang T, ông Mai Xuân T là người đại diện theo pháp luật của bị hại Mai Xuân T1. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải nộp án phí hình sự Phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Hồng T2 , ông Trần Quang S là người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Đặng Quang T, ông Mai Xuân T là người đại diện theo pháp luật của bị hại Mai Xuân T1.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 51/2023/HSST ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quý H , Nguyễn Quang Bảo P , Phạm Hồng T2 , Trần Đặng Quang T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
2. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quý H 08 (tám) năm tù.
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04-10-2022.
3. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Phạm Hồng T2 05 (năm) năm tù.
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04-10-2022.
4. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Bảo P 05 (năm) năm tù.
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 04-10-2022.
5. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Đặng Quang T 04 (bốn) năm tù.
- Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án (thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 04-10-2022 đến ngày 16-01-2023 được trừ vào thời gian chấp hành án).
6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Nguyễn Quý H , Nguyễn Quang Bảo P , Phạm Hồng T2 , Trần Đặng Quang T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Hồng T2 , ông Trần Quang S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự Phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án Phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nam Định; - Công an tỉnh Nam Định; - TAND TP Nam Định; - Chi cục THADS TP Nam Định; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; - Bị cáo; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tiến Dũng |