- Tranh chấp gì? án hình sự — "Môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Căn cứ điểm đ khoản 2, khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 328 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HS-ST Ngày 24/4/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hương
- Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Vũ Văn Thăng
+ Ông Nguyễn Trọng Vinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phi Hải, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18, 24 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 130/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2023; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 15/TB-TA ngày 09 tháng 02 năm 2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 18/TB-TA ngày 27 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Thị U, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1974, tại Đồng Nai. Nơi cư trú: Khu phố T, phường L, thành phố K, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T, sinh năm 1935 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1942; Bị cáo là con thứ 5 trong gia đình có 9 anh chị em; Chồng: Nguyễn Văn K, sinh năm 1974. Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Lê Thị U bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” từ ngày 16/01/2022 đến ngày 22/01/2022 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Long Khánh. Đến ngày 19/4/2022, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị U: Ông Sin Thoại K, Luật sư của Công ty Luật TNHH MTV Thoại Khánh, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- 1 -
1/ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố K, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
2/ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu phố Đ, phường S, thành phố K, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
3/ Anh Lê Nhĩ H, sinh năm 2000. Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố K, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
4/ Chị Lê Thị Mỹ U, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố 3, phường A, thành phố K, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
5/ Chị Nguyễn Thị Thảo Ng, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp A, xã LH, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
6/ Chị Hồng Thị Ngọc T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Ấp 4, xã TS, huyện ĐQ, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1/ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp BL, xã HL, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
2/ Chị Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấ LH, xã LG,, huyện CM, tỉnh Anh Giang. Vắng mặt.
3/ Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ 9, ấp 1, xã L, thành phố K, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
4/ Chị Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1986. Địa chị: Tổ 9, Khu phố Đ, phường S, thành phố K, Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị U là người kinh doanh quán cà phê “BiBo” tại đường Nguyễn Trãi thuộc khu phố 2, phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh. Để buôn bán tốt và kiếm được nhiều lợi nhuận, Út đã thực hiện hành vi môi giới mại dâm cụ thể như sau:
Theo đó, Lê Thị U đã tuyển các nữ bán dâm đến ở và làm việc, phục vụ tại quán của Út. Những nữ bán dâm này đến làm việc cho quán của Út và không được trả lương, khi khách nam đến uống cà phê được các nữ bán dâm tiếp cận, chào hỏi và thỏa thuận việc mua bán dâm với giá từ 350.000 đồng đến 400.000 đồng cho mỗi lượt bán dâm, địa điểm bán dâm do các nữ bán dâm này lựa chọn tại các nhà nghỉ ở thành phố Long Khánh và khu vực lân cận.
Lê Thị U thu lợi từ việc môi giới các nữ bán dâm bằng cách, nếu khách đồng ý mua dâm thì những nữ bán dâm này sẽ tính tiền cà phê, nước bất kỳ cho mỗi ly nước là 25.000 đồng, nếu không đồng ý mua dâm thì những nữ bán dâm này sẽ tính tiền cà phê, nước bất kỳ cho mỗi ly nước là 20.000 đồng. Căn cứ vào số tiền bán nước, Lê Thị U sẽ tính được số lần bán dâm cho khách của gái bán dâm tại quán, nếu trong một ngày gái bán dâm bán có từ 02 lượt khách mua dâm trở lên thì phải trả cho Út số tiền 50.000 đồng hoặc đóng theo tháng là 350.000 đồng/ 1
- 2 -
tháng. Từ phương thức hoạt động Lê Thị U thừa nhận trong thời gian từ 20/10/2021 đến 12/01/2022, bị cáo đã thu lợi bất chính được số tiền là 4.500.000 đồng.
Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 12/1/2022, Công an thành phố Long Khánh phối hợp với Công an phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh, Công an xã Xuân Định, huyện Xuân Lộc kiểm tra và bắt quả tang tại phòng số 102 khách sạn Ái Linh, thuộc khu phố 2, phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh Lê Thị Mỹ U, sinh năm 1990, ngụ tại khu phố 3, phường A, thành phố K đang bán dâm cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1995, ngụ tại Khu phố Đ, phường S, thành phố K. Tại phòng số 1 và phòng số 3, khách sạn Ngọc Anh thuộc xã Xuân Định, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, bắt quả tang Nguyễn Thị Thảo Ng, sinh năm 1992 và Hồng Thị Ngọc T, sinh năm 1991, cùng ngụ tại tại khu phố 2 phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh đang bán dâm cho Lê Nhĩ H, sinh năm 2000, ngụ tại khu phố T, phường T, thành phố K và Nguyễn Văn H, sinh năm 1987, ngụ tại ấp T, xã T, thành phố K.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Thị Mỹ U, Nguyễn Thị Thảo Ng, Hồng Thị Ngọc T và những người mua dâm đã thừa nhận đã thực hiện hành vi thảo thuận để tiến hành việc mua bán dâm tại quán cà phê “Bi Bo” do Lê Thị U làm chủ. Tiến hành kiểm tra quán cà phê “Bi Bo” Cơ quan điều tra còn phát hiện tại quán có Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1986, ngụ tại Khu phố Đ, phường S, thành phố K, Nguyễn Thị Mỹ X, sinh năm 1983, ngụ tại khu phố 2, phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh và Nguyễn Thị N, sinh năm 1990, ngụ tại khu phố 2, phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh nên đã mời những đối tượng này cùng Út để làm việc. Qua làm việc, Ly, Xuân, Nhung và Lê Thị U đều thừa nhận những đối tượng này trước đó đã từng trao đổi, thảo thuận việc bán dâm cho khách nam tại quán cà phê “Bi Bo”.
Quá trình điều tra bị cáo Út đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính.
Tang vật thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh thu giữ 03 bao cao su đã qua sử dụng, 03 tờ giấy bạc mệnh giá 500.000 Việt Nam đồng và số tiền 4.500.000 đồng thu lợi bất chính do bị cáo Lê Thị U giao nộp.
Tại bản cáo trạng số: 54/CT-VKSLK ngày 23/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo Lê Thị U về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngày 08/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh có văn bản số 377/VKS-HS đề nghị rút hồ sơ vụ án để xem xét lại tội danh đối với bị cáo Út và cùng ngày Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh quyết định trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đề điều tra bổ sung. Tại bản cáo trạng số: 116/CT-VKSLK ngày 18/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo Lê Thị U về tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm d, đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Tại phiên tòa:
- 3 -
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số: 116/CT-VKSLK ngày 18/11/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị U phạm tội “Môi giới mại dâm”; áp dụng điểm d, đ khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị U mức án từ 03 năm đến 04 năm tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 bao cao su đã qua sử dụng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính do bị cáo Lê Thị U giao nộp là 4.500.000 đồng và 05 tờ giấy bạc mệnh giá 500.000 Việt Nam đồng.
Bị cáo Lê Thị U thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị U phát biểu quan điểm: Về tội danh và điều luật truy tố, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Luật sư không tranh luận với Kiểm sát viên. Tuy nhiên, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra là nặng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo không biết nội dung thỏa thuận giữa người bán dâm và người mua dâm, việc người bán dâm đưa tiền cho bị cáo là ý chí chủ quan của họ, không phải bị cáo yêu cầu; bị cáo chỉ hưởng tiền chênh lệch là 5.000đồng/ly nước nên không ý thức được hành vi của mình cấu thành tội phạm; bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu, đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo là lao động chính trong gia đình và hiện đang nuôi con nhỏ, cho bị cáo Út được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chăm sóc con.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận, đối đáp: Đại diện Viện kiểm sát không đồng ý với quan điểm của Luật sư bào chữa cho rằng việc đưa tiền là ý chí của người bán dâm bởi lẽ tài liệu có tại hồ sơ thể hiện giữa bị cáo và các tiếp viên nữ có sự thỏa thuận về việc họ phải đưa cho bị cáo 50.000đồng/ngày nếu trong ngày có từ 02 lượt mua dâm trở lên hoặc đóng theo tháng với số tiền 350.000đồng. Ngoài ra, động cơ vụ lợi không phải là yếu tố bắt buộc đối với tội “Môi giới mại dâm”. Về mức hình phạt từ 03 năm đến 04 năm tù mà Viện kiểm sát đưa ra là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bản thân là trái pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo lo cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến
- 4 -
hay khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu được, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 12/01/2022, Công an thành phố Long Khánh kiểm tra, phát hiện bắt quả tang tại phòng số 102 khách sạn Ái Linh thuộc khu phố 2, phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh, Lê Thị Mỹ U đang bán dâm cho Nguyễn Văn T. Ngoài ra, cùng thời điểm trên tại phòng số 1 và phòng số 3, khách sạn Ngọc Anh, thuộc xã Xuân Định, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị Thảo Ng và Hồng Thị Ngọc T đang bán dâm cho Lê Nhĩ H và Nguyễn Văn H. Những đối tượng này thừa nhận sống và làm phục vụ tại quán cà phê “Bi Bo” tại phường Xuân Hòa, thành phố Long Khánh do bị cáo Lê Thị U làm chủ. Qua làm việc, bị cáo Lê Thị U thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mặc dù, không đứng ra làm trung gian để thỏa thuận việc mua bán dâm nhưng bị cáo đã tạo điều kiện thuận lợi để các tiếp viên nữ thỏa thuận việc mua bán dâm với khách nam tại quán do bị cáo làm chủ; đồng thời yêu cầu các tiếp viên nữ phải bán 01 lon nước với giá từ 20.000đồng thành 25.000đồng và thỏa thuận nếu trong một ngày nữ tiếp viên bán dâm từ 02 lượt khách trở lên thì phải trả cho bị cáo Út số tiền 50.000 đồng hoặc đóng theo tháng là 350.000 đồng/tháng. Từ phương thức hoạt động trên trong thời gian từ 20/10/2021 đến 12/1/2022, Lê Thị U đã thu lợi bất chính được số tiền là 4.500.000 đồng. Do vậy, hành vi của Lê Thị U đã cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với hành vi mua dâm của Nguyễn Văn T, Lê Nhĩ H, Nguyễn Văn H và hành vi bán dâm của Lê Thị Mỹ U, Nguyễn Thị Thảo Ng và Hồng Thị Ngọc T Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền là đúng quy định pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Ngày 12/01/2022, Công an thành phố Long Khánh bắt quả tang Lê Thị Mỹ U, Nguyễn Thị Thảo Ng và Hồng Thị Ngọc T đồng thời bán dâm cho Nguyễn Văn T, Lê Nhĩ H và Nguyễn Văn H tại khách sạn Ái Linh và khách sạn Ngọc Anh nên hành vi của bị cáo Lê Thị U là phạm tội đối với 02 người trở lên được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuy nhiên, với tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 328 Bộ luật hình sự thấy rằng: Việc quy kết bị cáo phạm tội 02 lần trở lên chỉ dựa vào lời khai của bị cáo và người bán dâm, cùng số tiền bị cáo khai đã nhận được từ người bán dâm mà không xác định được thời gian, địa điểm, đối tượng thực hiện việc mua bán dâm của những lần đó nên không đủ cơ sở để cho rằng bị cáo phạm tội 02 lần trở lên.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, đạo đức xã hội, nếp sống văn minh trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực
- 5 -
chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của mại dâm đối với đời sống xã hội và biết việc tạo điều kiện cho hành vi mua bán dâm xảy ra là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi, do đó cần xử lý nghiêm.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo” và tỏ ra “ăn năn hối cải” về hành của bản thân; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự; hiện đang nuôi con nhỏ sinh năm 2018, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo Lê Thị U có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần thiết áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị U hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo nhằm đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật.
Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 4 Điều 328 Bộ luật hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy đối với 03 bao cao su đã qua sử dụng; Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Lê Thị U và 03 tờ giấy bạc mệnh giá 500.000đồng thu được từ các đối tượng mua bán dâm.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Xét ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố, hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp một phần nên chấp nhận một phần.
Ý kiến của Luật sư bào chữa về việc cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp thuận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ điểm đ khoản 2, khoản 4 Điều 328; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị U phạm tội “Môi giới mại dâm”.
Xử phạt bị cáo Lê Thị U 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Thị U số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
- 6 -
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Xuân Lập, thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì Ủy ban nhân dân xã (phường) giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo cho Cơ quan Thi hành án hình sự để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 03 bao cao su đã qua sử dụng. (Vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/5/2022).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 6.000.000đồng, trong đó tiền thu lợi bất chính của bị cáo Lê Thị U là 4.500.000đồng và 03 tờ bạc mệnh giá 500.000đồng thu từ người mua bán dâm (Số tiền trên đã được nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh theo giấy nộp tiền ngày 25/5/2022).
3/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Thị U phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
̣
4/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND TPLK; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Chi cục Thi hành án dân sự TPLK; - Bị cáo; Nhà tạm giữ CATPLK; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HS, THS. - 7 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đồng Thị Hương |