vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Lagi, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 25/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P (tên gọi khác: Khỉ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn P phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LA GI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 52/2023/HS-ST.
Ngày: 25 – 5 - 2023.

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đăng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quang - Ông Trịnh Văn Thái

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký của Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Đông – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận và điểm cầu thành phần tại Công an thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai (hình thức trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/HSST-QĐ, ngày 12 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P (tên gọi khác: Khỉ), sinh năm 2001, tại Bình Thuận. Nơi ĐKHKTT: Khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Chổ ở hiện nay: sống lang thang (không cố định). Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết); Bà Trần Thị L, sinh năm 1984; Vợ, con: không; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 23/11/2022, bị Công an thị xã La Gi xử phạt 6.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0026631/QĐ-XPHC. Nhân thân: Ngày 23/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 72/2019/HSST. Ngày 25/8/2020, chấp hành xong án phạt tù (đã xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/02/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã La Gi (Có mặt tại điểm cầu thành phần).

* Bị hại: 1/ Bà Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Khu phố 4, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).

2/ Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Khu phố 2, phường T thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phan Thị X, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu phố 11, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).

* Người tham gia tố tụng khác: 1/ Đồng chí Nguyễn Hoàng Vương - Chiến sĩ, Đội thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận (Có mặt tại điểm cầu thành phần).

2/ Đồng chí Lê Phú Cẩn - Chuyên viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận (Có mặt tại điểm cầu thành phần).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn P đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0026631/QĐ-XPHC ngày 23/11/2022 của Công an thị xã La Gi. Sau đó, từ ngày 04/12/2022 đến ngày 07/12/2022, P thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã La Gi, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 04/12/2022, Nguyễn Văn P đi bộ trên đường Cách mạng tháng 8, thuộc phường Bình Tân tìm tài sản sơ hở để lấy trộm, khi đi đến khu phố 4, phường Bình Tân phát hiện thấy nhà chị Huỳnh Thị Kim L không có ai nên P nhặt 01 con dao Thái Lan cắt dây buộc cửa sổ đột nhập vào bên trong nhà. Khi vào trong P thấy trên thùng đồ tại phòng khách có 01 ví, mở ví ra thấy bên trong có 5.100.000 đồng nên P lấy trộm số tiền này bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, chị L phát hiện tài sản bị mất nên trình báo với chính quyền địa phương. Ngày 05/12/2022, Công an phường Bình Tân mời P về làm việc thì P thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị L và đã giao nộp số tiền còn lại 4.100.000 đồng, Công an phường Bình Tân đã chuyển toàn bộ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã La Gi để xử lý theo quy định.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 07/12/2022, Nguyễn Văn P đi bộ trên đường Thống Nhất để tìm tài sản lấy trộm, khi đến khu phố 2, phường Tân Thiện phát hiện thấy quán Hằng Nga của chị Nguyễn Thị Hồng N đóng cửa không có ai trông coi, P đột nhập vào bên trong tìm tài sản lấy trộm. Vào bên trong P lấy trộm được số tiền 180.000 đồng, 02 micro không dây và 01 tai nghe rồi thoát ra ngoài. Trên đường tẩu thoát P phát hiện thấy dây tai nghe có bên bị hư nên vứt bỏ bên lề đường, còn 02 micro P đã đem bán cho bà Phan Thị X với số tiền 150.000 đồng. Phát hiện tài sản bị mất chị Nga trình báo đến chính quyền địa phương, ngày 12/12/2022 Công an phường Tân Thiện mời P về trụ sở làm việc thì P thừa nhận hành vi trộm cắp nêu trên, Công an phường Tân Thiện đã chuyển toàn bộ vụ việc lên Cơ quan CSĐT Công an thị xã La Gi xử lý theo quy định.

Ngày 06/3/2023, tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KL-ĐGTS của Hội đồng định gía tài sản trong tố tụng hình sự thị xã La Gi kết luận:

- 02 micro không dây, không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, còn hoạt động; Có giá trị 200.000 đồng.

- Tài sản qua hồ sơ: 01 tai nghe có dây, bị đứt một bên, không rõ nhãn hiệu; Hội đồng thống nhất không định giá tài sản này do không có tài sản để định giá và không đủ điều kiện cần thiết để tiến hành định giá (không có hóa đơn, chứng từ).

 Tổng giá trị tài sản định giá: 200.000 đồng.

Về vật chứng vụ án: Số tiền 4.100.000 đồng; 02 micro không dây (không rõ nhãn hiệu).

Về dân sự: Sau khi nhận lại tài sản các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Sau khi phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân của bị cáo; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng số: 50/CT-VKS ngày 27/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

*Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự.

*Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ: 02 năm -> 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

Về dân sự: Đã giải quyết xong.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, bản Cáo Trạng của Viện kiểm sát; đồng ý với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đối đáp. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy, việc vắng mặt của những người trên không gây trở ngại cho việc xét xử vì lời khai của họ đã khai đầy đủ thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xét thấy, lời khai của bị cáo Nguyễn Văn P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, người liên quan; phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; Do đó đủ cơ sở Hội đồng xét xử kết luận: Vào khoảng 18 giờ 50 phút ngày 04/12/2022, tại khu phố 4, phường Bình Tân, thị xã La Gi, Nguyễn Văn P đã đột nhập vào nhà chị Huỳnh Thị Kim L trộm cắp số tiền 5.100.000 đồng. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 07/12/2022, Nguyễn Văn P tiếp tục đột nhập vào Quán Hằng Nga của chị Nguyễn Thị Hồng N tại khu phố 2, phường Tân Thiện, thị xã La Gi lấy trộm số tiền 180.000 đồng và 02 micro không dây trị giá 200.000 đồng. Tuy bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 07/12/2022 dưới 2.000.000 đồng (380.000 đồng) nhưng trước đó bị cáo P đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi này của bị cáo P và hành vi thực hiện trộm cắp tài sản vào 04/12/2022 đều đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo Trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn P về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người khác để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự của địa phương.

Đối với tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì cần tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo bất chấp, xem thường pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, ngoài ra bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT đã giao trả lại tài sản số tiền 4.100.000 đồng cho bị hại Huỳnh Thị Kim L, trả lại 02 Micro không dây cho bị hại Nguyễn Thị Hồng N là phù hợp.

Về dân sự: Các bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Phan Thị X mua 02 micro này không biết bị cáo P phạm tội mà có nên không xem xét xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn P (tên gọi khác: Khỉ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/02/2023.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/5/2023). Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ