vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Ch 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2023 Trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày: 25-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Th, ông Kh

-Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh T - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Đ- Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ch; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1993 tại Cao Bằng; Nơi thường trú: huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông. Nơi ở: thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông A, sinh năm: 1961 và bà B, sinh năm: 1960; vợ, con: chưa; tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 10/3/2020 bị Toà án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xử phạt 10 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 04/4/2021.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/01/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Hoàng Đình Nh, sinh năm 1991, trú tại: ấp 2, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11/2022, Ch đến làm thuê tại xưởng mộc của anh Nh thuộc ấp 2, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Được khoảng 02 tháng thì do có nhiều thợ làm nên anh Nhu đã cho Ch nghỉ việc. Bức xúc vì bị anh Nhu không chịu trả tiền công cho mình số tiền 750.000 đồng nên vào ngày 23/01/2023, khi Ch đang ở tại phòng trọ số 04 nhà trọ không tên thuộc ấp 2, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước thì Chđã nảy sinh ý định vào xưởng mộc của anh Nhu để lấy trộm tài sản vì Ch biết ban đêm tại xưởng mộc của anh Nhu không có ai trông coi. Đến khoảng 01 giờ 45 phút ngày 24/01/2023, Ch đi bộ một mình từ phòng trọ đến xưởng mộc của anh Nhu (cách khoảng 50m). Khi đi đến xưởng mộc, do thấy cửa khóa nên Ch nhặt cây gỗ dài khoảng 50cm ở gần đó cậy tấm tôn ở gần cửa xưởng mộc ra rồi chui vào trong xưởng. Lúc này, do hai bên trong xưởng đã tắt điện nên Ch đã lấy điện thoại Realme màu đỏ ra mở đèn điện thoại lên rồi tìm tài sản lấy trộm. Sau khi đi tìm kiếm tài sản thì Ch đã lấy trộm được các dụng cụ để làm mộc gồm: 01 máy xẻ gỗ cầm tay hiệu Maktec, 02 máy chà nhám hiệu Makita, 9556HN; 01 máy rô tơ cầm tay hiệu Maktec, MT583; 01 máy lộng cầm tay hiệu Total, TS206656; 01 máy rung Pmu hiệu Makita, BO3710. Đến ngày 27/01/2023, anh Nh đến xưởng mộc làm việc thì phát hiện vụ việc nên đến Công an xã Tiến Hưng trình báo. Đến 09 giờ ngày 28/01/2023, Ch đã đến Công an xã Tiến Hưng đầu thú, khai nhận hành vi của mình và giao nộp toàn bộ tang vật.

Tại bản Kết luận định giá số 10/KL-HĐĐGTS ngày 31/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Xoài, kết luận:

01 máy xẻ gỗ cầm tay hiệu Maktec, không còn nhãn hiệu trị giá 600.000 đồng.

02 máy chà nhám hiệu Makita, 9556HN trị giá 600.000 đồng

01 máy rô tơ cầm tay hiệu Maktec, MT583 trị giá 500.000 đồng

01 máy lộng cầm tay hiệu Total, TS206656 trị giá 400.000 đồng

01 máy rung Pmu hiệu Makita, BO3710 trị giá 500.000 đồng

Tổng trị giá 2.600.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 52/CTr-VKS ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Ch về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt Ch mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng; Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu; Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân tên Ch; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đỏ. Tiêu hủy 01 quần vải màu đen và 01 áo khoác màu xám.

Tại phiên tòa: Ch xác nhận nội dung bản cáo trạng là đúng với hành vi bị cáo thực hiện, không tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa Ch khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 52/CTr-VKS ngày 27/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố.

Xét lời khai tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản thu giữ tài sản, đồ vật, kết luận điều tra, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; thấy phù hợp về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/01/2023, Ch đến xưởng mộc “Hoàng Nh” tại ấp 2, xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước do ông Nh làm chủ, lén lút chiếm đoạt các dụng cụ làm mộc gồm: 01 máy xẻ gỗ cầm tay hiệu Maktec, 02 máy chà nhám hiệu Makita, 9556HN; 01 máy rô tơ cầm tay hiệu Maktec, MT583; 01 máy lộng cầm tay hiệu Total, TS206656; 01 máy rung Pmu hiệu Makita, BO3710. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt theo Hội đồng định giá kết luận là 2.600.000 đồng.

Ch là người đã thành niên, có đủ năng lực hành vi dân sự nên nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích vụ lợi mà cố tình thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người bị hại là khách thể được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về tội: “Hủy hoại tài sản”, ngày 04/4/2021 chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; xuất thân thuộc người dân tộc thiểu số; tự nguyện ra cơ quan công an đầu thú; tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho người bị hại nên chưa gây thiệt hại gì.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi và hậu quả bị cáo gây ra cho xã hội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân cần xét xử bị cáo Ch một mức án nghiêm khắc.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng.

[3] Trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án:

- 01 máy xẻ gỗ cầm tay hiệu Maktec, 02 máy chà nhám hiệu Makita, 9556HN; 01 máy rô tơ cầm tay hiệu Maktec, MT583; 01 máy lộng cầm tay hiệu Total, TS206656; 01 máy rung Pmu hiệu Makita, BO3710. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại ông Nh và không còn yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 căn cước công dân tên Ch; 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đỏ không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo

- 01 quần vải màu đen và 01 áo khoác màu xám tịch thu tiêu hủy.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Ch 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/01/2023

3. Trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên không xem xét.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân tên Ch và 01 điện thoại di động hiệu Realme màu đỏ.

- Tịch thu tiêu hủy 01 quần vải màu đen và 01 áo khoác màu xám.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0002102 ngày 13/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ch phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ