vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2022. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————
Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày 16-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Dịu;

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Minh H, sinh năm 1989 tại tỉnh Cà Mau; thường trú: Số H đường B, khu phố H Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông Lê Văn L, sinh năm 1963 và bà Đặng Thị Hữu D, sinh năm 1962; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/12/2022 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Trung Th, sinh ngày 07/7/2004; địa chỉ: Phòng B06.13, Chung cư B M Đ, khu phố T L, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Anh Trần Phước Vương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Minh H là người không có nghề nghiệp ổn định và người nghiện ma túy. Khoảng 22 giờ ngày 19/11/2022, H đi bộ từ nhà tại số H đường B, khu phố H Th, phường B Th, thành phố D A, tỉnh Bình Dương đến tiệm internet “Ph L” thuộc tổ M, khu phố T L, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương để chơi game. Tại đây, H ngồi chơi tại máy số 22. Đến khoảng 04 giờ ngày 20/11/2022, H đi vào nhà vệ sinh và đi ngang qua bàn số 30 của anh Trần Trung Th. Khi đi vệ sinh xong và đi ra, H nhìn thấy anh Th đang ngủ, trên bàn có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X - 64GB, màu đen, phía trong ốp lưng để một tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng, đang cắm sạc pin. Lúc này, H đi đến chỗ anh Th đang ngủ và quan sát xung quanh thấy không có ai nên rút dây sạc điện thoại và lấy chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Apple Iphone X - 64GB, màu đen của anh Th bỏ vào trong túi quần. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại trên, H đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ ngày 20/11/2022, H mang chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Apple Iphone X - 64GB, màu đen đến khu vực ngã ba 621 thuộc khu phố T L, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương bán cho một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 300.000 đồng và tiêu xài hết (Lê Minh H không biết việc tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng để phía trong ốp lưng của điện thoại trên).

Anh Trần Trung Th sau khi bị mất điện thoại đã kiểm tra camera tại tiệm internet “Ph L” thì phát hiện thấy H đi qua chỗ anh Th nằm ngủ nên đi tìm H. Đến khoảng 17 giờ ngày 02/12/2022, anh Th gặp H tại cổng Ký túc xá khu A, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, khu phố T L, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương nên anh Th trình báo cho Công an phường Đ H đến đưa H về làm việc. Tại Công an phường, Lê Minh H đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình .

* Kết luận định giá tài sản số: 180/BBĐG-HĐĐGTS ngày 10/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố Dĩ An, kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X - 64GB, màu đen có trị giá là 5.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và các bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận định giá tài sản số: 180/BBĐG-HĐĐGTS ngày 10/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D A, tỉnh Bình Dương.

Đối với người thanh niên mua điện thoại của Th do trộm cắp mà có tại khu vực ngã ba 621 thuộc khu phố T L, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương, hiện không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau.

Tại cáo trạng số: 70/CT – VKS - DA ngày 07 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Minh H với mức án từ 09 đến 12 tháng tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Trung Th yêu cầu bị cáo Lê Minh H bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại với số tiền 5.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại Th nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát, đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 04 giờ ngày 20/11/2022 tại tiệm internet “Ph L” thuộc tổ M, khu phố T L, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Lê Minh H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X - 64GB, màu đen của anh Trần Trung Th có trị giá 5.000.000 đồng.

Như vậy, hành vi của bị cáo chiếm đoạt tài sản của bị hại có tổng giá trị 5.000.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số: 70/CT – VKS - DA ngày 07 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; sau khi phạm tội bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo có cha là ông Lê Văn L là thương binh ¾ . Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Trung Th yêu cầu bị cáo Lê Minh H bồi thường giá trị tài sản bị thiệt với số tiền 5.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đồng ý bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại Thành Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại.

Đối với người thanh niên mua điện thoại của Th do trộm cắp mà có tại khu vực ngã ba 621 thuộc khu phố T L, phường Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương, hiện không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau, là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với bị cáo về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận. Đối với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 và khoản Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lê Minh H 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường cho bị hại Trần Trung Th số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lê Minh H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo và bị hại có mặt có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ