vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 15/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Kh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đình Kh. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "52 - 2023 Nguyễn Đình Kh (K1-173) 15-5 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Kh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2022.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày: 15 – 5 – 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Anh Tuấn.

2/ Bà Thái Thục Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vũ – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2023/QĐXXST-HS ngày 20/4/2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Đình Kh, sinh năm: 1989, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (Hộ khẩu thường trú: Số 637/6 PTH, Phường B, Quận Y, TP.HCM; chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Bích V; có vợ tên Đinh Thị S và 01 con; tiền án: Không;

- Tiền sự: Tại Quyết định số 299/QĐ-TA, ngày 24/4/2020, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng; đến ngày 27/7/2021 chấp hành xong.

- Nhân thân:

+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 250/2008/HS-ST ngày 06/08/2008, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù, về tội “Cướp tài sản”; sau đó Bản án bị Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị tăng hình phạt tù; tại Bản án hình sự phúc thẩm số 661/2008/HS-PT ngày 19/11/2008, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng nghị; đến ngày ngày 11/9/2012 chấp hành xong toàn bộ Bản án.

+ Tại Quyết định số 25/QĐ-TA, ngày 14/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (do có sự thay đổi về chính sách pháp luật).

+ Tại Quyết định số 74/QĐ-QLNN ngày 05/11/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8 Quyết định về việc quản lý có thời hạn đối với người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình Kh. Tại Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 06/12/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8 quyết định hủy Quyết định số 74/QĐ-QLNN ngày 05/11/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 5, Quận 8 nêu trên, để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 thi hành Lệnh bắt bị can tạm giam đối với Nguyễn Đình Kh.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/12/2022 đến nay. (Có mặt).

- Bị hại:

Anh: Nguyễn Hữu L, sinh năm: 1998; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: Ấp ĐH, xã ĐB, thị xã BM, tỉnh VL; chỗ ở: Số 28 đường 6C, khu dân cư TS, ấp 4B, xã BH, huyện BC, TP.HCM). (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông: Đặng Thanh S, sinh năm: 1998; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: Tổ 8, ấp CN, xã LP, huyện CG, tỉnh LA; chỗ ở: Số 154/182/39 ÂDL, Phường B, Quận Y, TP.HCM). (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, nên Nguyễn Đình Kh nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 30/10/2022, Nguyễn Đình Kh đi bộ từ đường PH, huyện BC, TP.HCM đến đường TQB, Phường N, Quận Y, TP.HCM; khi đi đến trước quán Karaoke Oxy 1 (số 920 TQB, Phường N, Quận Y, TP.HCM) thì Kh phát hiện 01 chiếc xe mô tô, hiệu Honda Airblade, biển số: 62M1-630.39 của anh Nguyễn Hữu L (xe anh L mượn của ông Đặng Thanh S để làm phương tiện đi lại) đang dựng trước quán và không có người trông coi; nên Kh đi đến kiểm tra phát hiện xe không khóa cổ và Kh trộm cắp chiếc xe trên, sau đó đẩy bộ chiếc xe hướng về bến xe Quận Y. Trên đường đi, Kh thấy có nhiều người nhìn theo, sợ bị phát hiện, nên Kh cất chiếc xe biển số: 62M1-630.39 tại góc đường giao lộ giữa đường số 12 BMT III, Phường N, Quận Y với đường 127 BMT III, Phường N, Quận Y. Sau đó, Kh đi bộ đến khu vực Trường học TQB, Phường N, Quận Y đứng đợi khi nào không có người chú ý thì quay lại lấy chiếc xe trên đem đi bán lấy tiền tiêu xài.

Sau khi phát hiện bị mất trộm chiếc xe biển số: 62M1-630.39, anh L kiểm tra camera và phát hiện Kh là người trộm cắp chiếc xe; nên anh L đi tìm và phát hiện Kh đang đứng trước Trường học TQB, Phường N, Quận Y. Lúc này, anh L giữ Kh lại và trình báo Công an Phường 5, Quận 8 đến giải quyết. Sau đó, Công an Phường 5, Quận 8 đưa Kh đi chỉ nơi cất giấu chiếc xe biển số: 62M1-630.39, nhưng lúc này chiếc xe không còn. Vụ việc được lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan điều tra Công an Quận 8 để điều tra làm rõ.

Ngày 02/11/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 8 kết luận giá trị còn lại của xe mô tô Honda Airblade, biển số: 62M1-630.39 là 18.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình Kh khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- 01 áo thun dài tay màu đỏ, sọc ngang màu đen; 01 quần jean dài màu xanh; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 đôi dép màu đỏ có họa tiết màu trắng đen (do Kh giao nộp).

- 01 USB hiệu Kingston, màu xanh (do anh L giao nộp).

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hữu L đã bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe biển số: 62M1-630.39 là ông Đặng Thanh S và ông S không có yêu cầu gì khác. Anh L yêu cầu Nguyễn Đình Kh bồi thường cho anh L số tiền 16.000.000 đồng.

* Bản cáo trạng số 35/CT–VKS–Q8 ngày 13/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố cáo Nguyễn Đình Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đình Kh và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Kh với mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hữu L đã bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe biển số: 62M1-630.39 là ông Đặng Thanh S và ông S không có yêu cầu gì khác. Anh L yêu cầu bị cáo Nguyễn Đình Kh bồi thường cho anh L số tiền 16.000.000 đồng và bị cáo đã đồng ý bồi thường, nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền trên cho bị hại L 01 lần, ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo Nguyễn Đình Kh (do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và khó thi hành).

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

+ Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển số: 62M1-630.39; Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8 không thu hồi được; nên không có cơ sở xem xét xử lý.

+ 01 áo thun dài tay màu đỏ, sọc ngang màu đen; 01 quần jean dài màu xanh; 01 mũ lưỡi trai màu đen 01 đôi dép màu đỏ có họa tiết màu trắng đen (do bị cáo Kh giao nộp): Là tài sản hợp pháp của bị cáo Kh và bị cáo đã sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không có yêu cầu nhận lại và hiện không có giá trị sử dụng; nên cần tịch thu và tiêu hủy.

+ 01 USB hiệu Kingston, màu xanh do anh L giao nộp và anh L không có yêu cầu nhận lại: Là tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án; nên tịch thu và tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

* Bị cáo Nguyễn Đình Kh thừa nhận hành vi phạm tội đã thực hiện và không tranh luận, không bào chữa, bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của: Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, các quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn Hữu L như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trị giá tài sản mà bị cáo Nguyễn Đình Kh đã chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Hữu L, qua định giá tài sản là 18.000.000 (mười tám triệu) đồng (thuộc trường hợp tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng).

Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Đình Kh đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về nhân thân của bị cáo Nguyễn Đình Kh: Bị cáo Nguyễn Đình Kh có quá trình nhân thân không tốt (là đối tượng nghiện ma túy, từng bị Tòa án kết tội về tội “Cướp tài sản”), nhưng không chịu sửa chữa, tu dưỡng và rèn luyện, phấn đấu thành công dân sống có ích cho xã hội; ngược lại, bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thể hiện thái độ xem thường pháp luật; nên Hội đồng xét xử cũng cần phải lưu ý khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình Kh thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Bản Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Nguyễn Đình Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội; quan điểm luận tội và mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo Nguyễn Đình Kh; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về ý kiến của bị cáo Nguyễn Đình Kh xin được giảm nhẹ hình phạt là có cơ sở pháp luật, như Hội đồng xét xử đã phân tích nêu trên; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, nhưng xét thấy bị cáo Nguyễn Đình Kh thuộc thành phần lao động nghèo, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và khó thi hành; nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Nguyễn Hữu L đã bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô, biển số: 62M1-630.39 là ông Đặng Thanh S và ông S không có yêu cầu gì khác; đồng thời, ông S vắng mặt tại phiên tòa, nên không xem xét giải quyết.

- Bị hại Nguyễn Hữu L có yêu cầu bị cáo Nguyễn Đình Kh bồi thường cho anh L số tiền mà anh L đã bồi thường cho ông S là 16.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Kh đồng ý bồi thường số tiền 16.000.000 đồng cho bị hại L, nhưng bị cáo xin được thực hiện bồi thường nhiều lần, sau khi chấp hành án trở về.

Xét, giữa bị cáo và bị hại đã thống nhất với nhau số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 16.000.000 đồng, nhưng không thống nhất về phương thức, thời gian thực hiện bồi thường. Theo quy định của pháp luật về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Vì vậy, bị cáo Kh phải có trách nhiệm thực hiện bồi thường một lần số tiền nêu trên cho bị hại L, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Về vật chứng liên quan:

- Đối với 01 chiếc xe mô tô, hiệu Honda Airblade, biển số: 62M1-630.39, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8 không thu hồi được; nên không có cơ sở xem xét xử lý.

- 01 áo thun dài tay màu đỏ, sọc ngang màu đen; 01 quần jean dài màu xanh; 01 mũ lưỡi trai màu đen; 01 đôi dép màu đỏ có họa tiết màu trắng đen (do bị cáo Kh giao nộp): Là tài sản hợp pháp của bị cáo Kh và bị cáo đã sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không có yêu cầu nhận lại và hiện không có giá trị sử dụng; nên cần tịch thu và tiêu hủy.

- 01 USB hiệu Kingston, màu xanh (do anh L giao nộp và anh L không có yêu cầu nhận lại): Là tài liệu, chứng cứ có liên quan đến vụ án; nên tịch thu và tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Kh 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời hạn tù tính từ ngày 06/12/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đình Kh.

- Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) áo thun dài tay màu đỏ, sọc ngang màu đen; 01 (một) quần jean dài màu xanh; 01 (một) mũ lưỡi trai màu đen; 01 (một) đôi dép màu đỏ có họa tiết màu trắng đen.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 02/02/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh).

+ Tịch thu và tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB hiệu Kingston, màu xanh.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (ông Đặng Thanh S): Không giải quyết.

+ Đối với bị hại Nguyễn Hữu L: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và các Điều: 584, 585, 586, 587, 590, 357 và Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 cùng Luật Thi hành án Dân sự;

Buộc bị cáo Nguyễn Đình Kh thực hiện bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại Nguyễn Hữu L, với số tiền là 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). Thi hành việc bồi thường một lần, ngay sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải bồi thường do tài sản bị xâm phạm cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều: 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Đình Kh phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, với số tiền là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, với số tiền là 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; có quyền kháng cáo phần Bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình, trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ