vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định Tuyên án 15/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2022. Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang Hải - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TP
TỈNH BĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày 15-6-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TP, TỈNH BĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Vĩnh Mậu

2. Ông Phạm Thành Nghĩa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, tỉnh BĐ tham gia phiên tòa: Ông Trần Điện Ảnh – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TP, tỉnh BĐ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang H, (tên gọi khác: không; giới tính: Nam), sinh năm 1984 tại thành phố NT, tỉnh KH; nơi cư trú thôn Liên Thành, xã Vĩnh Phương, thành phố NT, tỉnh KH; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 2/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn C, sinh năm: 1960; con bà: Nguyễn Thị X, sinh năm: 1964; vợ: Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm: 1990; Con: 01 đứa, sinh năm 2010, tiền án: 01, ngày 30/9/2019 Toà án nhân dân thị xã SC, tỉnh PYxử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 24/01/2021; tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 24/5/2007, Toà án nhân dân thành phố NT, tỉnh KH xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong án phạt tù.

- Ngày 13/8/2013, Toà án nhân dân thành phố NT, tỉnh KH xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù.

- Ngày 05/01/2016, Toà án nhân dân thành phố NT, tỉnh KH xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong án phạt tù.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2022 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện PM, tỉnh BĐ. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1980; nơi cư trú: Chùa Gia Khánh, thôn Vĩnh Hy, xã Phước Lộc, huyện TP, tỉnh BĐ; có mặt.

2. Anh Trần Xuân N, sinh năm 1996; nơi cư trú: Chùa Gia Khánh, thôn Vĩnh Hy, xã Phước Lộc, huyện TP, tỉnh BĐ; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1964; nơi cư trú: Số nhà 14, đường Tân Thành, thôn Liên Thành, xã Vĩnh Phương, thành phố NT, tỉnh KH; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1997; nơi cư trú: Số nhà 9A, đường Phước Tường, phường Phước Long, thành phố NT, tỉnh KH; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1971; nơi cư trú: Số nhà 9A, đường Phước Tường, phường Phước Long, thành phố NT, tỉnh KH; vắng mặt.

3. Chị Võ Thị Thuỳ An, sinh năm 1973; nơi cư trú: Số nhà 9A, đường Phước Tường, phường Phước Long, thành phố NT, tỉnh KH; vắng mặt.

4. Anh Lâm Xuân Th, sinh năm 1972; nơi cư trú: Số nhà 1155, đường 2/4, phường Vạn Thạnh, thành phố NT, tỉnh KH; vắng mặt.

5. Chị Nguyễn Thị Xuân Th, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số nhà 1155, đường 2/4, phường Vạn Thạnh, thành phố NT, tỉnh KH; vắng mặt.

6. Chị Nguyễn Thị Ý T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số nhà 14, đường Tân Thành, thôn Liên Thành, xã Vĩnh Phương, thành phố NT, tỉnh KH; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 09/8/2022, Nguyễn Quang H, sinh năm 1984, trú tại thôn Liên Thành, xã Vĩnh Phương, thành phố NT, tỉnh KHrủ Lê Thanh Phong, sinh năm 1994, trú đường 8B, khu đô thị Lê Hồng Phong 2, phường Phước Hải, thành phố NT, tỉnh KHđiều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, biển kiểm soát 79N2-791.46 đi từ thành phố NT, tỉnh KHđến tỉnh BĐ tìm những ngôi chùa để trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ cùng ngày, cả hai đến chùa Gia Khánh thuộc thôn Vĩnh Hy, xã Phước Lộc, huyện TP, tỉnh BĐ, Phong đứng bên ngoài đợi sẵn, còn Hải lén đi bộ vào bên trong rồi đi lên tầng 1 chùa Gia Khánh thì thấy các tu sĩ đang tập trung tụng kinh tại Chính điện. Lúc này, Hải quan sát thấy phòng ở của ông Trần Xuân N, sinh năm 1996 là tu sĩ chùa Gia Khánh tại tầng 1 không khóa cửa nên Hải đột nhập vào trong phòng lấy trộm số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) và tiền ngoại tệ có trong ví để trong hộc bàn cạnh giường ngủ rồi cất tiền trộm được vào trong túi xách. Sau đó, Hải tiếp tục đi xuống tầng trệt và thấy cửa phòng ở của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 là trụ trì chùa Gia Khánh được khoá ngoài nên Hải đến khu vực phía sau khuôn viên chùa lấy 01 (một) xà beng trên đống củi gỗ rồi quay lại dùng xà beng cạy phá khóa cửa nhưng không được. Tiếp đó, Hải đi đến phòng khách khu chánh điện ở tầng trệt tiếp tục dùng xà beng cạy phá cửa phòng ở của ông Nguyễn Văn T để lén vào bên trong phòng, Hải lấy trộm 01 (một) bì thư bên trong có số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để trên giường ngủ và 04 (bốn) bì thư bên trong mỗi bì thư có số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) để trong hộc tủ kệ ti vi. Khi lấy xong, Hải bỏ tất cả 05 (năm) bì thư có tiền vào túi mang theo người rồi cầm theo xà beng trở ra ngoài. Trên đường đi, Hải vứt bỏ xà beng lại trong khuôn viên chùa rồi quay ra chỗ Phong. Sau đó, Phong điều khiển xe mô tô chở Hải đến thuê nhà nghỉ tại đoạn ngã 3 Phú Tài, thành phố Quy Nhơn, tỉnh BĐ. Tại phòng nhà nghỉ, Hải lấy 05 (năm) bì thư trộm được tại chùa Gia Khánh ra kiểm tra thì thấy trong 05 (năm) bì thư đều có xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), Hải lấy tiền ra khỏi các bì thư xếp chung thành 01 (một) xấp tiền rồi vứt bỏ 05 (năm) bì thư vào sọt rác và Hải không kiểm tra bao nhiêu tiền, cất toàn bộ số tiền trộm được tại chùa Gia Khánh vào trong túi mang theo người. Đến tối cùng ngày, Hải cùng Phong điều khiển xe mô tô và đón xe khách về nhà Hải. Số tiền trộm được, Hải không xác định được đã tiêu xài hết bao nhiêu tiền, số tiền còn lại, Hải cất giấu trong tủ phòng ngủ tại nhà Hải. Đến ngày 14/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TP, tỉnh BĐ làm việc với Hải và Hải thừa nhận hành vi của mình, giao nộp số tiền 76.625.400 đồng (bảy mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm đồng) và các tờ tiền ngoại tệ cho Công an.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TP đã tạm giữ:

- 01 xà beng bằng kim loại dài 65cm, một đầu cong dài 11cm có rãnh nhổ đinh, đầu còn lại dẹp;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 79N2-791.46;

- 01 hợp đồng mua bán xe mô tô 79N2-791.46 và giấy đăng ký xe mô tô biển số 79N2-791.46;

- 01 áo khoác da màu đen, size M; 01 áo khoác vải màu xám, size XL, mặt trong vải màu xanh; 01 quần jean dài màu xanh trắng, có mạc TCS; 01 túi đeo chéo màu đen, phía trước túi có dòng chữ Adidas, bên trong có 01 tua vít dài 20cm cán màu đỏ, đầu 04 cạnh và 01 tua vít dài 25cm cán màu xanh, đầu dẹp; 01 mũ lưỡi trai màu đen, phía trên có dòng chữ Adidas màu trắng; 01 đôi giày màu đen;

- 130 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện TP);

- 01 ví da màu đen, bên trong ví có 22 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 06 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 02 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện TP);

- 05 tờ tiền mệnh giá 2 Dollar America; 04 tờ tiền mệnh giá 1 Dollar America; 01 tờ tiền mệnh giá 20 Dollar Hongkong; 01 tờ tiền mệnh giá 1000 Won Korea; 01 tờ tiền mệnh giá 5 RM Malaysia; 01 tờ tờ tiền mệnh giá 20 India; 01 tờ tiền mệnh giá 10 India; 01 tờ tiền mệnh giá 50 Srilanka; 01 tờ tiền mệnh giá 5 Dollar Australia; 02 tờ tiền mệnh giá 100 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 tờ tiền mệnh giá 200 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 02 tờ tiền mệnh giá 500 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 tờ tiền mệnh giá 01 Yuan nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; 01 tờ tiền mệnh giá 100 Ngân hàng Cambodia năm 2001; 01 tờ tiền mệnh giá 100 Ngân hàng Cambodia năm 2014; 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng Ngân hàng Quốc gia Việt Nam; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; 01 tờ tiền mệnh giá 100 (giống tiền Tết của Trung Quốc); 01 tờ tiền mệnh giá 50 Piso Philippines; 01 tờ tiền mệnh giá 10 MohroJbahk (Đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện TP);

Ngày 11/01/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện TP kết luận:

- 05 (Năm) tờ tiền in mệnh giá 2 Dollar America, có tổng giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 231.820 đồng (hai trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm hai mươi đồng).

- 04 (Bốn) tờ tiền in mệnh giá 1 Dollar America, có tổng giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 92.728 đồng (chín mươi hai nghìn bảy trăm hai mươi tám đồng).

- 01 (Một) tờ tiền in mệnh giá 20 Dollar HongKong, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 59.040 đồng (năm mươi chín nghìn không trăm bốn mươi đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 1000 Won Korea, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 18.000 đồng (mười tám nghìn đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 5 Ringgit Malaysia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 26.175 đồng (hai mươi sáu nghìn một trăm bảy mươi lăm đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 20 Rupees India, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 5.840 đồng (năm nghìn tám trăm bốn mươi đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 10 Rupees India, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 2.920 đồng (hai nghìn chín trăm hai mươi đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 50 Rupees SriLanka, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 3.250 đồng (ba nghìn hai trăm năm mươi đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 1 Yuan Trung Quốc, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 3.447 đồng (ba nghìn bốn trăm bốn mươi bảy đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100 Riels Cambodia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 600 đồng (sáu trăm đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 100 Riels Cambodia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 600 đồng (sáu trăm đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 50 Piso Philippines, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 20.950 đồng (hai mươi nghìn chín trăm năm mươi đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 10 Tugrik Mongolia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 70 đồng (bảy mươi đồng).

- 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 5 Dollars Australia, có giá trị thành tiền tại thời điểm bị xâm hại là 79.380 đồng (bảy mươi chín nghìn ba trăm tám mươi đồng).

Tổng cộng 544.820 đồng (năm trăm bốn mươi bốn nghìn tám trăm hai mươi đồng).

Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 500 đồng Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, mã số hiệu S5 761957: đã hết giá trị lưu hành và 01 tờ tiền mệnh giá 100, mã số hiệu JW 99991972: không xác định ngân hàng phát hành nên không định giá được.

Về dân sự: Anh Nguyễn Văn T yêu cầu bồi thường 210.000.000 đồng, anh Trần Xuân N yêu cầu bồi thường 12.000.000 đồng, đến nay bị can vẫn chưa bồi thường.

Bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 20-02-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TP, tỉnh BĐ truy tố bị cáo Nguyễn Quang H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Quang H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng đã nêu và các chứng cứ mà cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập. Bị cáo xin Tòa xử phạt nhẹ, giảm mức bồi thường thiệt hại để bị cáo có điều kiện tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại.

Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 08 năm đến 09 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự; buộc Nguyễn Quang H bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 210.000.000 đồng (được trừ vào 76.625.400 đồng hiện đang tạm giữ); anh Trần Xuân N số tiền 12.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho anh Trần Xuân N số tiền ngoại tệ đang tạm giữ.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 xà beng bằng kim loại dài 65cm, một đầu cong dài 11cm có rãnh nhổ đinh, đầu còn lại dẹp; 01 áo khoác da màu đen, size M; 01 áo khoác vải màu xám, size XL, mặt trong vải màu xanh; 01 quần jean dài màu xanh trắng, có mạc TCS; 01 túi đeo chéo màu đen, phía trước túi có dòng chữ Adidas, bên trong có 01 tua vít dài 20cm cán màu đỏ, đầu 04 cạnh và 01 tua vít dài 25cm cán màu xanh, đầu dẹp; 01 mũ lưỡi trai màu đen, phía trên có dòng chữ Adidas màu trắng; 01 đôi giày màu đen; là vật chứng vụ án và đồ vật cá nhân không còn giá trị kinh tế.

Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 79N2-791.46 và 01 hợp đồng mua bán xe mô tô 79N2-791.46 và giấy đăng ký xe mô tô biển số 79N2-791.46 cho chị Nguyễn Thị X.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Quang H nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Quang H có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thừa nhận toàn bộ sự việc phạm tội giống như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 09/8/2022, bị cáo rủ Lê Thanh Phong điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, biển kiểm soát 79N2-791.46 đi từ thành phố NT, tỉnh KHđến tỉnh BĐ tìm những ngôi chùa để trộm cắp tài sản. Vào tối ngày 09/8/2022 tại chùa Gia Khánh thuộc thôn Vĩnh Hy, xã Phước Lộc, huyện TP, tỉnh BĐ, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt số tiền 12.000.000 đồng cùng nhiều mệnh giá tiền ngoại tệ có giá trị 544.820 đồng của anh Trần Xuân N và lén lút chiếm đoạt số tiền 210.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T. Tổng giá trị tài sản mà Nguyễn Quang H chiếm đoạt là 222.544.820 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an ở địa phương. Do đó, Cáo trạng cũng như lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 3 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Quang H đã nhiều lần bị kết án phạt tù về tội trộm cắp tài sản, có 03 bản án được xóa án tích, còn 01 tiền án nhưng không ăn năn hối cải, không chịu tu dưỡng bản thân để làm công dân tốt. Bị cáo có đủ sức khỏe nhưng lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bất chấp pháp luật chiếm đoạt tài sản của người khác, cần phải xử phạt nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn nên cần được xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Do bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 của Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Quang H bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 210.000.000 đồng, được trừ vào 76.625.400 đồng hiện đang tạm giữ; buộc bị cáo Nguyễn Quang H bồi thường cho anh Trần Xuân N số tiền 12.000.000 đồng.

Nghĩa vụ liên đới bồi thường giữa bị cáo và Lê Thanh Phong nếu có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác khi có đơn yêu cầu.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho anh Trần Xuân N số tiền ngoại tệ (có trị giá theo định giá 544.820 đồng).

Tịch thu, tiêu hủy: 01 xà beng bằng kim loại dài 65cm, một đầu cong dài 11cm có rãnh nhổ đinh, đầu còn lại dẹp (anh Tốt, anh Nam không nhận lại); 01 áo khoác da màu đen, size M; 01 áo khoác vải màu xám, size XL, mặt trong vải màu xanh; 01 quần jean dài màu xanh trắng, có mạc TCS; 01 túi đeo chéo màu đen, phía trước túi có dòng chữ Adidas, bên trong có 01 tua vít dài 20cm cán màu đỏ, đầu 04 cạnh và 01 tua vít dài 25cm cán màu xanh, đầu dẹp; 01 mũ lưỡi trai màu đen, phía trên có dòng chữ Adidas màu trắng; 01 đôi giày màu đen; là vật chứng vụ án và đồ vật cá nhân bị cáo không nhận lại, không còn giá trị kinh tế.

Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 79N2-791.46 và giấy đăng ký xe mô tô biển số 79N2-791.46 cho chị Nguyễn Thị X.

Đối với Lê Thanh Phong, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TP đã tiến hành điều tra nhưng Phong không có mặt tại địa phương, không rõ đang ở đâu. Ngày 12/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TP ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự để xác lập nguồn tin về tội phạm tiếp tục xác minh đối với hành vi của Lê Thanh Phong. Hiện nay, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TP đã khởi tố bị can đối với Lê Thanh Phong về hành vi trên là đúng quy định pháp luật.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 79N2-791.46 do ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1997, trú 11A Tân Trào, khu phố Thánh Gia, phường Vĩnh Nguyên, thành phố NT, tỉnh BĐ mua và đứng tên đăng ký chủ sở hữu vào cuối năm 2017. Chị Nguyễn Thị X mua lại xe này từ ông Kiệt. Bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bà Xong không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TP không xử lý hình sự đối với bà Xong là phù hợp.

Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về hình phạt đối với bị cáo đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, các tình tiết đánh giá về nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về trách nhiệm dân sự phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

Về án phí: Bị cáo Hải phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 23, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2022.

3. Về trách nhiệm dân sự:

3.1 Buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Nguyễn Văn T số tiền 210.000.000 đồng (Hai trăm mười triệu đồng), được trừ vào số tiền 76.625.400 đồng (bảy mươi sáu triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm đồng), hiện đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện TP, tỉnh BĐ.

Theo Công văn số 52/ĐCSHS ngày 12-01-2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TP và biên bản giao, nhận ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại Kho bạc Nhà nước huyện TP, tỉnh BĐ.

3.2 Buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải có nghĩa vụ bồi thường cho anh Trần Xuân N số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

4. Xử lý vật chứng:

4.1 Tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (Một) xà beng bằng kim loại dài 65cm, một đầu cong dài 11cm có rãnh nhổ đinh, đầu còn lại dẹp;

- 01 (Một) áo khoát da màu đen, size M;

- 01 (Một) áo khoát vải màu xám, size XL, mặt trong vải màu xanh.

- 01 (Một) quần jean dài màu xang trắng, có mạc TCS.

- 01 (Một) túi đeo chéo màu đen, phía trước túi có dòng chữ Adidas, bên trong có 01 tua vít dài 20cm cán màu đỏ, đầu 04 cạnh và 01 tua vít dài 25cm cán màu xanh, đầu dẹp;

- 01 (Một) mũ lưỡi trai màu đen, phía trên có dòng chữ Adidas màu trắng;

- 01 (Một) đôi giày màu đen.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TP, tỉnh BĐ.

4.2 Trả lại cho:

- Anh Trần Xuân N số tiền và ngoại tệ (có trị giá theo định giá 544.820 đồng, hiện đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước huyện TP, tỉnh BĐ.

Theo Công văn số 52/ĐCSHS ngày 12-01-2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TP và biên bản giao, nhận ngày 13 tháng 01 năm 2023 tại Kho bạc Nhà nước huyện TP, tỉnh BĐ.

- Chị Nguyễn Thị X:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số 79N2-791.46.

+ 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 133026 mang tên Nguyễn Văn K, biển số đăng ký 79N2-791.46.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TP, tỉnh BĐ.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Buộc Nguyễn Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí Dân sự sơ thẩm là 6.668.730đồng.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ