vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 18/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Tiếp T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt Trần Tiếp T – 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 06/5/2023. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Tiếp T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày 18 tháng 8 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Phước Tự.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông: Lê Văn Dài.

2/ Ông: Ngô Văn Khon.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang - Thư ký tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Dương - Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Trần Tiếp T (tên gọi khác: không), sinh năm: 2000; tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm T, thị trấn T, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; trình độ văn hóa: 6/12; nghề nghiệp: làm thuê; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn H và con bà Trần Tiếp T1, sinh năm 1977; gia đình bị cáo: có 04 anh, chị em, bị cáo là con đầu lòng; vợ: Lê Thị Huỳnh N, sinh năm: 2003; con: 01 con sinh năm 2022; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: ngày 07/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong ngày 09/02/2021 đã được được xóa án tích; tạm giữ: 06/5/2023; tạm giam: 09/5/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Nguyễn Thị Huỳnh N1, sinh năm: 1994, vắng mặt;

2. Phan Hoàng T2, sinh năm: 1987, vắng mặt;

Cùng trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;

- Người đại diện hợp pháp cho anh T2:

Chị Nguyễn Thị Huỳnh N1, sinh năm: 1994 theo văn bản ủy quyền ngày 01/7/2023.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích tìm tài sản lấy trộm nên đêm 06/5/2023 bị cáo Trần Tiếp T từ nhà ở thị trấn T đi bộ xuống cầu C thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, khi đi ngang nhà chị Nguyễn Thị Huỳnh N1 và anh Phan Hoàng T2 thấy có một xe mô tô biển số 66B1-678.79 nhãn hiệu HONDA, loại Future, màu đỏ-đen, đậu trong sân nhà gần cửa ra vào, chìa khóa xe để ở baga trước, quan sát không thấy ai T đã leo rào vào trong sân, đi lại gần chiếc xe, nhìn chung quanh thì thấy chìa khóa cổng treo tại cột trước sân nhà và bị cáo đã lấy chìa khóa đó mở cổng rào, sau đó dắt xe ra ngoài đường cách khoảng 300m thì khởi động máy chạy về hướng thành phố C tẩu thoát, lúc đó là khoảng 03 giờ ngày 06/5/2023.

Đến khoảng 05 giờ cùng ngày bị cáo điều khiển xe vừa trộm được chạy trên đường nông thôn thuộc xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì gặp người bạn tên T3 không biết họ chữ lót và địa chỉ cụ thể, T hỏi T3 có biết ai mua xe cũ không? để T bán xe, T3 chỉ T đến khu công nghiệp xã B, huyện T, tìm người tên N2 để bán. Lúc này T tháo biển số xe bỏ vào cốp xe, rồi điều khiển xe đến khu công nghiệp B, huyện T vào 01 tiệm Internet không nhớ rõ tên tiệm hỏi người tên N2 để bán xe, sau đó có 01 thanh niên ra gặp T và T nói “có một chiếc xe trộm được cần bán”, người thanh niên đó kêu T về chổ N2 đi rồi tính và trực tiếp người thanh niên lái xe chở T về nhà trọ Cô H1 trú tại ấp B, xã B, khi tới nơi thì đậu xe ở hành lang nhà trọ, khi đó T và người thanh niên nghe tin lực lượng Công an đang truy tìm xe bị mất trộm ở khu vực xã B, nên người thanh niên bỏ đi đâu không biết, còn T thì điều khiển xe chạy trốn. Đến khoảng 10 giờ ngày 06/5/2023 biết không trốn thoát được nên T đã đến Công an đầu thú khai nhận toàn bộ việc lấy trộm xe, đồng thời giao nộp xe để làm vật chứng trong vụ án.

Theo kết quả định giá số 38/KL-HĐ ngày 09/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Bình, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future màu sơn đỏ-đen số máy JC90E0023670, số khung RLHJC7648LY006410 biển số 66B1-678.79 trị giá 21.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 52/CT-VKSTB ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố bị cáo Trần Tiếp T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại phiên tòa Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Vì có đủ cơ sở xác định: để có tiền tiêu xài vào lúc 03 giờ 00 phút ngày 06/5/2023 bị cáo Trần Tiếp T đã lén lút lấy trộm của chị Nguyễn Thị Huỳnh N1 và anh Phan Hoàng T2 ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future màu sơn đỏ-đen có giá trị là 21.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Tiếp T là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, hậu quả tác hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nguyên nhân điều kiện dẫn đến phạm tội và nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Về hình phạt bổ sung không áp dụng; Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đã giải quyết xong nên không xem xét.

Trong phần tranh luận bị cáo Trần Tiếp T thừa nhận tội, không có tranh luận với Viện kiểm sát.

Nói lời sau cùng bị cáo Trần Tiếp T đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện và Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Bị cáo Trần Tiếp T thừa nhận vào khoảng 03 giờ ngày 06/5/2023 đã lén lút đột nhập vào sân nhà của chị Nguyễn Thị Huỳnh N1 và anh Phan Hoàng T2 ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp lấy 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Future màu sơn đỏ-đen có giá trị là 21.000.000 đồng. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đúng với vật chứng thu giữ do bị cáo giao nộp khi đến đầu thú. Vì vậy, lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ. Khi thực hiện hành vi bị cáo nhận thức đầy đủ việc lén lút lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, xâm phạm sở hữu tài sản của người khác trái phép, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó hành vi của bị cáo đã có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tại khoản 1 Điều 173 BLHS có quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Tiếp T là nguy hiểm cho xã hội làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, kỹ cương pháp luật bị xâm hại, bị cáo không tôn trọng tài sản của người khác, xâm phạm khách thể là quyền sở hữu tài sản được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có nhân thân xấu mới vừa được xóa án tích thì lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp thể hiện xem thường pháp luật. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo từ bỏ hành vi phạm tội.

Tuy nhiên quá trình xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cho nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Qua lời khai của bị cáo có trong hồ sơ, cũng như lời trình bày tại phiên tòa thể hiện bị cáo Trần Tiếp T không có nghề nghiệp, không có thu nhập. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Xét lời đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đồng thời phù hợp với phân tích, nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Huỳnh N1 và Phan Hoàng T2 đã nhận lại tài sản bị mất trộm không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

Đã trả lại cho bị hại xong đúng quy định nên không xem xét lại.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Tiếp T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo, bị hại được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Tiếp T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Xử phạt Trần Tiếp T – 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 06/5/2023.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Tiếp T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án 18/8/2023. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ