vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tínhtừ ngày 10/02/2023. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — ""Trộm cắp tài sản" đối với bị cáo Nguyễn Thái H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––
Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày 10-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tuyết Minh và ông Phạm Công Gia.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Nguyễn Thái H, sinh năm 1989, tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp L, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam: tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Mai G, sinh năm 1966; vợ, con: Không;

Tiền án:Tại bản án số 24/2020/HS- ST ngày 24/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Tại bản án số 26/2021/HS-ST ngày 29/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (một) năm tù về tội Trộm cắp tài sản.

Tổng hình phạt tại 02 (hai) bản án, bị cáo Nguyễn Thái H phải chấp hành chung hình phạt là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội Trộm cắp tải sản, bị cáo đã chấp hành án phạt tù xong ngày 25/09/2022.

Tiền sự: không

Nhân thân: Ngày 26/2/2020, H bị Công an xã Phú Lâm, huyện Tân Phú xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 27/2/2020 H đã đóng xong tiền phạt.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Phú từ ngày 10/02/2023 đến nay.

- Người bị hại:

Anh Trần Phú Q, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1980

Địa chỉ: Ấp L, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Có mặt bị cáo; vắng mặt người bị hại).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thái H có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 25 tháng 9 năm 2022. Do không có nghề nghiệp và nghiện ma túy nên H nảy sinh ý định tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy để sử dụng. Vào khoảng giữa tháng 01 năm 2023, H điều khiển xe mô tô mượn của chị Phương là hàng xóm (không nhớ biển số) để đi công việc, khi đi đến đoạn đường đồng xanh thuộc ấp Thanh Trung,xã S, thì thấy có một cây cầu làm bằng các thanh sắt hình thang để ở sát bờ ruộng lúa của anh Nguyễn Trung K, do không có người trông coi nên H lấy bỏ lên xe mô tô chở đi tiêu thụ, khi ra đến đường bê tông hướng đi ra đường quốc lộ 20, thì xe bị hư phải dẫn bộ, đang đi thì gặp một người bạn tên Lĩnh nhà ở huyện Mađaguôi, tỉnh Lâm Đồng (không rõ địa chi cụ thế) đi cùng với một người (không rõ lai lịch), thấy vậy H nhờ Lĩnh chở cái cầu sắt mới trộm cắp được đi bán rồi lấy tiền chia nhau tiêu xài. Lĩnh đồng ý và chở đi bán được hơn 500.000 đồng rồi đưa H 260.000đ, số tiền này H đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/02/2023, khi H đang ở nhà thuộc ấp L, xã S, thì nhìn thấy có một dãy hàng rào được chôn dưới đất một đầu, bằng sắt V5, dài khoảng 2m của anh Trần Phú Q, thấy không có người trông coi nên H nhổ được 18 cọc thanh sắt bỏ lên xe đạp của nhà chở đi tiêu thụ, khi đi ra đến đường Họ Tám thuộc xã Phú Lâm, huyện Tân Phú thì gặp một nguời phụ nữ đang đi thu mua ve chai (không rõ lai lịch) nên đã bán cho người phụ nữ này được số tiên 510.000đ, số tiền bán được H tiêu xài cá nhân hết.

Qua trích xuất camera của gia đình anh Trần Phú Q phát hiện đối tượng Nguyễn Thái H. Khi H biết Công an đang truy tìm thì H tự nguyện đến công anxã S đầu thú.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HDDGTS ngày 15/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Phú đã xác định: 01 cây cầu sắt đặc dài 3m, rộng 50 cm, thanh ngang 22, cây sắt i10 và V5, đã qua sử dụng. Kết luận về giá trị của tài sản trên (đã trích khấu hao) 2.050.000 đồng: 18 cọc thanh sắt V5, mỗi cọc dài 02m, đã qua sử dung. Kết luận về giá trị tài sản trên (đã trích khấu hao): 3.150.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại 5.200.000 đồng.

Cáo trạng số 02/CT-VKSTP-ĐN ngày 12/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Nguyễn Thái H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo H về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái H từ 01 (một) năm đến 01(một) năm 02 (hai) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.

- Đối với người tên Lĩnh, người thanh niên đi cùng Lĩnh và người phụ nữ thu mua ve chai do không rõ nhân thân lai lịch, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú tiếp tục xác minh làm rõ khi có cơ sở sẽ để nghị xử lý sau theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa: Bị cáo H thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã mô tả, bị cáo không bào chữa, tranh luận cho hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp tài liệu chứng cứ mới và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

Vào khoảng giữa tháng 01 năm 2023 và ngày 08/2/2023 tại ấp Thanh Lâm,xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thái H đã có hành vi trộm cắp 01 cây cầu sắt đặc dài 3m, rộng 50 cm, thanh ngang 22, cây sắt i10, V5 của gia đình anh Nguyễn Trung K trị giá 2.050.000 đồng và 18 cọc thanh sắt V5, mỗi cọc dài 2m của gia đình anh Trần Phú Q trị giá 3.150.000 đồng, tổng giá trị tài sản thiệt hại 5.200.000 đồng, nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Hành vi phạm tội của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội,xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ,gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm, theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo là người có có nhân thân xấu.

Về các biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người tên Lĩnh, người thanh niên đi cùng Lĩnh và người phụ nữ thu mua ve chai do không rõ nhân thân lai lịch, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú tiếp tục xác minh làm rõ khi có cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau theo quy định pháp luật.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân, là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy nhiên, về mức hình phạt đối với bị cáo chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tínhtừ ngày 10/02/2023.

2. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ