- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Kim Phượng, Trần Thị Điểm- Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNfH PHỐ PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 52/2023/HS-ST Ngày: 15/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Tâm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Ngô Rạng Đông
2/ Bà Nguyễn Thị Thu Ba
-Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Yến Nhi- Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44 /2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Hồ Kim P, sinh năm: 1984, tại: Châu Thành, Kiên Giang; Nơi ĐKTT: Ấp Tân Tiến, xã G T, huyện C T, tỉnh K G; Chổ ở: Khu phố 10, phường D Đ, thành phố P Q, tỉnh K G; nghề nghiệp: mua phê liệu; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ V B, sinh năm 1949, đã chết và bà M K H, sinh năm 1947, còn sống; Chồng bị cáo Lộc M, sinh năm 1980; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự : chưa.
Nhân thân: Ngày 12/5/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử về tội; Trộm cắp tài sản, theo Đ a khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sư năm 1999, tuyên phạt 02 năm tù (theo Bản án sơ thẩm số 96/2014/HS-ST); ngày 29/8/2015, chấp hành án xong bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)
Trần Thị Đ, sinh năm: 1996, tại: thành phố Rạch Giá, Kiên Giang; Nơi ĐKTT: Ấp Vĩnh Thành B, xã Vĩnh H H, huyện C T, tỉnh K G; Chổ ở: Khu phố 10, phường D Đ, thành phố P Q, tỉnh K G; nghề nghiệp: mua phê liệu; trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần V H, sinh năm 1966, còn sống và bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1970, còn sống; Chồng bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1990; Con có 01 người, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự : chưa.
Ngày 26/10/2022 bị tạm giữ, đến ngày 29/10/2022, bị khởi tố, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Có mặt).
Bị hại: Ông Đàm Văn H, sinh năm 1984.
Chổ ở: Khu phố 9, phường Dương Đông, thành phố P Q, tỉnh K G.
( Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 26/10/2022, Trần Thị Đ cùng với Hồ Kim P và người phụ nữ tên N (chưa rõ nhân thân) cùng nhau đi thu mua phế liệu. Khi đến khu vực nhà của anh Đàm Văn H, tại Tổ 10, khu phố 10, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang thì N tìm chỗ đi vệ sinh, còn Đ và P cùng nhau đi vào bên trong khu vực nhà của anh Hoạt thì phát hiện trong nhà kho chứa nhiều tài sản và không khoá cửa nên Đ và P nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi Đ và P đi vào bên trong nhà kho thấy có 02 (hai) thùng giấy carton chứa các thiết bị vệ sinh gồm: 10 (mười) bộ dụng cụ dùng để treo khăn tắm; 03 (ba) bộ vòi nước Lavabo; 03 (ba) bộ đựng giấy vệ sinh. Lúc này, Đ và P mỗi người vác 01 (một) thùng giấy chứa các tài sản trên từ nhà kho ra bên ngoài nhưng khi Đ và P đi được khoảng 20m thì bị H phát hiện bắt quả tang, H bắt giữ được Đ, còn P thì chạy thoát. Sau đó, Hoạt đưa Đ cùng số tài sản bị trộm cắp đến Công an phường Dương Đông lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Khi được triệu tập, P đã thừa nhận hành vi phạm tội. Ngày 29/10/2022, Trần Thị Đ, Hồ Kim P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phú Quốc khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.
* Tang vật thu giữ:
- 10 (mười) bộ dụng cụ treo khăn bằng kim loại, màu vàng đồng, không có nhãn hiệu, chưa qua sử dụng;
- 03 (ba) bộ vòi nước Lavabo bằng kim loại, màu vàng đồng, không rõ nhãn hiệu, chưa qua sử dụng;
- 03 (ba) bộ đựng giấy vệ sinh, bằng kim loại, màu vàng đồng, không rõ nhãn hiệu, chưa qua sử dụng;
- 02 (hai) chiếc dép quai ngang màu đen, có kích thước dài 25cm, chỗ rộng nhất 10cm, chỗ hẹp nhất 08 cm, trên dép có chữ PEDRO, đã qua sử dụng.
* Tại bản Kết luận định giá số: 08, ngày 06/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phú Quốc:
- Giá trị 10 (mười) bộ dụng cụ treo khăn bằng kim loại, màu vàng đồng (bằng đồng), không có nhãn hiệu, mua mới vào năm 2019, tài sản chưa qua sử dụng, giá trị tại thời Đ định giá vào tháng 10/2022 là 5.000.000 đồng.
- Giá trị 03 (ba) bộ vòi nước Lavabo, bằng kim loại, màu vàng đồng (bằng đồng), không rõ nhãn hiệu, mua mới vào năm 2019, tài sản chưa qua sử dụng, giá trị tại thời Đ định giá vào tháng 10/2022 là 5.400.000 đồng.
- Giá trị 03 (ba) bộ đựng giấy vệ sinh, bằng kim loại, màu vàng đồng, không rõ nhãn hiệu, mua mới vào năm 2019, tài sản chưa qua sử dụng, giá trị tại thời Đ định giá vào tháng 10/2022 là 1.080.000 đồng.
Tổng cộng giá trị tài sản là 11.480.000 đồng (mười một triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng).
Các bị cáo, bị hại không có ý kiến gì đối với kết luận định giá tài sản thành phố Phú Quốc về giá trị các tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt của bị hại.
Bản cáo trạng số 42/CT-VKSPQ ngày 03 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Trần Thị Đ và Hồ Kim P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trần Thị Đ và Hồ Kim P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; Đ s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS;
Xử phạt bị cáo Hồ Kim P từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; Đ s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS;
Xử phạt bị cáo Trần Thị Đ từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.
Xét các bị cáo không có việc làm nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập ổn định đối với các bị cáo theo khoản 3 Điều 36 BLHS.
Về xử lý vật chứng: 10 (mười) bộ dụng cụ treo khăn bằng kim loại, màu vàng đồng, không có nhãn hiệu, chưa qua sử dụng; 03 (ba) bộ vòi nước Lavabo bằng kim loại, màu vàng đồng, không rõ nhãn hiệu, chưa qua sử dụng; 03 (ba) bộ đựng giấy vệ sinh, bằng kim loại, màu vàng đồng, không rõ nhãn hiệu, chưa qua sử dụng (các tài sản trên đã trao trả cho chủ sở hữu, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét).
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) chiếc dép quai ngang màu đen, có kích thước dài 25cm, chỗ rộng nhất 10cm, chỗ hẹp nhất 08 cm, trên dép có chữ PEDRO, đã qua sử dụng
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng viện kiểm sát truy tố, không tranh luận với đại diện viện kiểm sát và Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị hại.
Đánh giá chứng cứ: Vào khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 26/10/2022, do cần tiền tiêu xài nên Trần Thị Đ, Hồ Kim P đã đi vào nhà kho trộm cắp 10 (mười) bộ dụng cụ treo khăn, 03 (ba) bộ vòi nước Lavabo, 03 (ba) bộ đựng giấy vệ sinh, có tổng giá trị 11.480.000 đồng (mười một triệu bốn trăm tám mươi nghìn đồng) của Đàm Văn H tại Tổ 10, khu phố 10, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định các bị cáo Trần Thị Đ và Hồ Kim P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Vào thời Đ thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo bất chấp pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại lén lút lấy trộm tài sản. Hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, nghị cần xử các bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Đ s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Trần Thị Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Đ i khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về xử lý vật chứng: 10 (mười) bộ dụng cụ treo khăn bằng kim loại, màu vàng đồng, không có nhãn hiệu, chưa qua sử dụng; 03 (ba) bộ vòi nước Lavabo bằng kim loại, màu vàng đồng, không rõ nhãn hiệu, chưa qua sử dụng; 03 (ba) bộ đựng giấy vệ sinh, bằng kim loại, màu vàng đồng, không rõ nhãn hiệu, chưa qua sử dụng (các tài sản trên đã trao trả cho chủ sở hữu, Hội dồng xét xử không xem xét).
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) chiếc dép quai ngang màu đen, có kích thước dài 25cm, chỗ rộng nhất 10cm, chỗ hẹp nhất 08 cm, trên dép có chữ PEDRO, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan Đ truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng và xử lý vật chứng mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Đ s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Hồ Kim P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Hồ Kim P 18 (Mười Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan tổ chức được giao giám sát nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Đ s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Trần Thị Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Trần Thị Đ 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ 03 ngày tạm giữ của bị cáo bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ nên bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan tổ chức được giao giám sát nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập theo khoản 3 Điều 36 BLHS.
Giao các bị cáo về UBND phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.
2. Về xử lý vật chứng: 10 (mười) bộ dụng cụ treo khăn bằng kim loại, màu vàng đồng, không có nhãn hiệu, chưa qua sử dụng; 03 (ba) bộ vòi nước Lavabo bằng kim loại, màu vàng đồng, không rõ nhãn hiệu, chưa qua sử dụng; 03 (ba) bộ đựng giấy vệ sinh, bằng kim loại, màu vàng đồng, không rõ nhãn hiệu, chưa qua sử dụng (các tài sản trên đã trao trả cho anh Đàm Văn Hoạt, Hội đồng xét xử không xem xét).
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) chiếc dép quai ngang màu đen, có kích thước dài 25cm, chỗ rộng nhất 10cm, chỗ hẹp nhất 08 cm, trên dép có chữ PEDRO, đã qua sử dụng.
Tang vật trên đã được chuyển giao cho chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phú Quốc theo quyết định chuyền giao vật chứng số 23/QĐ-VKSPQ-HS.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, miễn xét.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Đ a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết tại nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; -VKSND thành phố Phú Quốc; - Nhà tạm giữ thành phố Phú Quốc; - Đội tổng hợp CA thành phố PQ; - THA thành phố Phú Quốc; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Lê Thị Hồng Tâm |