vanban.org

Bản án 52/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 19/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lương Ngọc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Ngọc Tú - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LÂM HÀ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HS-ST
Ngày: 19/5/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Luân;

Bà Trần Thị Hằng.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đàm Thị Thu Duy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Lương Ngọc T, sinh năm 1995, tại: Tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Bản X, xã Y, huyện T, tỉnh N; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn Hợi, con bà Vi Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/4/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma Ty; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 11/01/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lâm Hà “có mặt”.

Bị hại: Bà Trần Thị Thu D, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn 3, xã T, thành phố Đ, tỉnh L “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 10/01/2023, Lương Ngọc T đi bộ từ xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt đến thôn Cổng Trời, xã Mê Linh, huyện Lâm Hà với mục đích tìm nhà dân nào sơ hở tài sản để trộm cắp. Khi đi, T mang theo 01 cây kìm cắt điện dài khoảng 16cm dùng để cắt, phá khóa để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T đi bộ đến khu vực thôn Cổng Trời, xã Mê Linh thì nhìn thấy bên cạnh nhà dân có 03 xe mô tô để cách đường bê tông không có người trông coi. T đi bộ tới vị trí xe mô tô BKS: 49S1 - 6970, nhãn hiệu Dream của chị Trần Thị Thu D, sinh năm 1982, cư trú tại thôn 3, xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, xe này dựng ở giữa 02 xe mô tô khác không thấy người trông coi nên T dắt bộ xe mô tô BKS: 49S1 - 6970 đi ra đường bê tông cách vị trí ban đầu khoảng 100m thì dừng xe lại. T dùng kìm điện tháo dây điện nối ổ khóa xe mô tô, rồi đạp nổ máy và điều khiển xe đi về hướng thị trấn Nam Ban, huyện Lâm Hà. Khi đi đến ngã ba gần nghĩa trang Đông Anh, thị trấn Nam Ban thì T dừng xe lại và dùng kìm điện tháo biển số xe vứt vào vườn cà phê, sau đó tiếp tục dùng kìm tháo các bộ phận xe gồm gacbaga trước, ốp nhựa hai bên sườn xe, đèn chiếu sáng phía trước nhằm mục đích thay đổi đặc điểm xe để không ai nhận ra. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe mô tô này đến cầu Tổng Đội, xã Đông Thanh, huyện Lâm Hà rồi vứt các bộ phận của xe đã tháo xuống suối. T tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến phòng trọ “Cường My”, tại xã Đông Thanh, huyện Lâm Hà để gửi cho bạn là anh Nguyễn Quốc Tiệp. Khi T đang gửi xe thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ và mời lên làm việc. Quá trình làm việc tại Cơ quan Công an Lương Ngọc T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: Một chiếc xe môtô hiệu Xiongshi màu nâu, loại xe Dream, BKS: 49S1 - 6970; 01 kìm bấm bằng kim loại, vỏ nhựa màu đỏ đen; 01 cờ lê 12-14 bằng kim loại màu trắng dài 12cm. 01 USB có chứa 01 đoạn video thời lượng 34 giây, video camera phía trước nhà bà Lê Thị Hồng có ghi nhận 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô đi qua nhà bà Hồng vào ngày 10/01/2023.

Tại bản kết luận số 04/KL-HĐĐG ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Lâm Hà kết luận: Xe mô tô hiệu Xiongshi loại xe Dream, màu nâu mang BKS: 49S1 - 6970 có giá trị 4.050.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Ngày 09/02/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Hà ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả một chiếc xe môtô hiệu Xiongshi màu nâu loại xe Dream, BKS: 49S1 - 6970 cho chủ sở hữu là bà Trần Thị Thu D.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị Thu D không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 04/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị cáo Lương Ngọc T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Ngọc T từ 09 đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra để xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 kìm bấm bằng kim loại, vỏ nhựa màu đỏ đen; 01 cờ lê 12-14 bằng kim loại màu trắng dài 12cm bị cáo đã sử dụng làm công cụ phạm tội nên đề nghị tuyên trịch thu tiêu hủy. 01 USB có chứa 01 đoạn video thời lượng 34 giây, video camera phía trước nhà bà Lê Thị Hồng có ghi nhận 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô đi qua nhà bà Hồng vào ngày 10/01/2023 để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên lưu vào hồ sơ vụ án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma Ty, không có nghề nghiệp ổn định. Vào ngày 10/01/2023, bị cáo chuẩn bị công cụ rồi đi bộ từ xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt đến thôn Cổng Trời, xã Mê Linh, huyện Lâm Hà với mục đích tìm nhà dân nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến khu vực thôn Cổng Trời, xã Mê Linh thì nhìn thấy bên cạnh nhà dân có 03 xe mô tô để cách đường bê tông không có người trông coi bị cáo đã lấy trộm một chiếc điều khiển đến phòng trọ “Cường My”, tại xã Đông Thanh, huyện Lâm Hà gửi cho bạn thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ, chiếc xe mô tô có giá trị 4.050.000đ.

Xét lời khai phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, bản Cáo trạng truy tố cùng các tài liệu, chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lương Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản trái phép của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì lười lao động, muốn hưởng thụ bị cáo đã lợi đã dụng sự sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhằm mục đích bán lấy tiền mua ma Ty sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã xâm phạm đến đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây hoang mang lo lắng, nghi kỵ trong quần chúng nhân dân và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ do bị cáo đã gây ra.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu từng đã bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma Ty. Sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo không tu chí làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích nhận định như trên, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật và đấu tranh phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người nghiện ma Ty, điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoại là chiếc xe môtô hiệu Xiongshi màu nâu, loại xe Dream, BKS: 49S1 - 6970 của bà Trần Thị Thu D thì đã được thu hồi trả lại cho bà D. Tại phiên tòa hôm nay bị hại bà Trần Thị Thu D vắng mặt, trong hồ sơ phản ánh không có yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 kìm bấm bằng kim loại, vỏ nhựa màu đỏ đen; 01 cờ lê 12-14 bằng kim loại màu trắng dài 12cm bị cáo đã dùng làm công cụ phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 USB có chứa 01 đoạn video thời lượng 34 giây, video camera phía trước nhà bà Lê Thị Hồng có ghi nhận 01 nam thanh niên điều khiển xe mô tô đi qua nhà bà Hồng vào ngày 10/01/2023 để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên lưu vào hồ sơ vụ án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lương Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lương Ngọc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 kìm bấm bằng kim loại, vỏ nhựa màu đỏ đen; 01 cờ lê 12-14 bằng kim loại màu trắng dài 12cm (tất cả có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 10/5/2023).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lương Ngọc T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/5/2023) bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo, riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lâm Đồng (02);

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;

- VKS, CA huyện Lâm Hà;

- Thi hành án huyện Lâm Hà;

- Bị cáo; người tham gia tố tụng;

- Lưu HS - BP.

Trần Minh Huấn

Cỡ chữ