- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thái V phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thái Vĩnh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HS-ST Ngày: 20-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Việt Hồng Phượng
2. Ông Bùi Văn Sơn
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Hoàng Thái Vĩnh (Tý), sinh năm 1989; Nơi sinh: tại An Giang; Nơi cư trú: Khóm Tây An, phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Bán vé số; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn 05/12; con ông Hoàng Hảo (chết) và bà Nguyễn Thị Cúc, sinh năm 1958; anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là người thứ ba trong gia đình; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Bích Tuyền, sinh năm 1991 và hai người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2014.
* Quá trình nhân thân: Từ nhỏ đến lớn sống cùng với gia đình tại Khóm Tây An, phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Đi học đến lớp 05 thì nghỉ học, đến năm 2006 kết hôn với Nguyễn Thị Bích Tuyền.
- Tiền án, tiền sự: Không.
+ Ngày 15/5/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 05/9/2009 chấp hành xong.
+ Ngày 16/6/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Đến ngày 31/8/2012 chấp hành xong.
+ Ngày 16/7/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 04/3/2017 chấp hành xong.
+ Ngày 20/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 27/7/2019 chấp hành xong.
- Bị can Hoàng Thái Vĩnh bị bắt tạm giam từ ngày 26/5/2023, tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện Châu Thành, tỉnh An Giang cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
1. Bà Lê Thị Tuyết, sinh năm 1948 (vắng mặt);
Cư trú: Ấp Hòa Hưng, xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành, An Giang.
2. Anh Nguyễn Văn Vũ Linh, sinh năm 1997 (vắng mặt);
Cư trú: Ấp Hòa Hưng, xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành, An Giang.
3. Ông Lê Văn Biệu, sinh năm 1948 (vắng mặt);
Cư trú: Ấp Hòa Hưng, xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành, An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Bích Tuyền, sinh năm 1991 (có mặt);
Cư trú: Khóm Tây An, phường Mỹ Thới, thành phố Long Xuyên, An Giang.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn Phước, sinh năm 1973 (vắng mặt);
Cư trú: Ấp Hòa Hưng, xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành, An Giang.
2. Chị Nguyễn Thị Trinh, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Cư trú: Ấp Hòa Hưng, xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành, An Giang.
3. Chị Đỗ Thị Phượng, sinh năm 1970 (vắng mặt);
Cư trú: Ấp Hòa Hưng, xã Hòa Bình Thạnh, huyện Châu Thành, An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/12/2022, Hoàng Thái Vĩnh điều khiển xe mô tô biển số: 67H9-8997 từ nhà thuộc thành phố Long Xuyên đến huyện Châu Thành, tỉnh An Giang bán vé số kiến thiết và tìm nhà người dân sơ hở trong việc quản lý tài sản để lấy trộm. Trong ngày, Vĩnh liên tục thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Châu Thành, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 30 phút, Vĩnh điều khiển xe mô tô biển số: 67H9-8997 đến nhà của Lê Thị Tuyết thuộc ấp Hòa Hưng, xã Hòa Bình Thạnh, thấy Tuyết đang nằm ngủ trên võng, điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 Core, màu xanh - đen của Tuyết để trên bàn nên lén lút lấy trộm điện thoại để vào túi quần Vĩnh đang mặc rồi lên xe chạy về hướng xã Vĩnh Thành. Khi chạy được khoảng 50 mét Vĩnh dừng xe, cất giấu điện thoại vừa lấy trộm vào trong cốp yên xe rồi tiếp tục đi tìm nhà không người trông coi, quản lý để trộm cắp tài sản.
Vụ thứ hai: Sau khi lấy trộm tài sản của Tuyết, Vĩnh tiếp tục điều khiển xe biển số: 67H9-8997 đến nhà của Nguyễn Văn Vũ Linh thuộc ấp Hòa Hưng, xã Hòa Bình Thạnh, thấy Linh đang nằm ngủ trên võng, điện thoại di động hiệu Vivo U10, màu xanh - đen của Linh đang để trên thanh dọc của giá võng nên lén lút lấy trộm điện thoại để vào túi quần Vĩnh đang mặc rồi lên xe chạy về hướng xã Vĩnh Thành. Vĩnh chạy được khoảng 500 mét thì dừng lại, cất giấu điện thoại vừa lấy trộm vào cốp yên xe rồi tiếp tục đi tìm nhà khác để trộm cắp tài sản.
Vụ thứ ba: Sau khi trộm cắp tài sản của Linh, Vĩnh tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số: 67H9-8997 đến nhà của Lê Văn Biệu thuộc ấp Hòa Thịnh, xã Hòa Bình Thạnh, thấy nhà mở cửa nhưng không có người trông coi, điện thoại di động hiệu Vivo Y11, màu xanh - đen của Biệu đang sạc pin cập vách trái căn nhà hướng từ ngoài nhìn vào, Vĩnh lén lút lấy trộm điện thoại để vào túi quần Vĩnh đang mặc rồi lên xe chạy về hướng xã Vĩnh Thành. Khi chạy được khoảng 100 mét, Vĩnh dừng lại cất giấu điện thoại vừa lấy trộm vào trong cốp yên xe rồi tiếp tục điều khiển xe chạy đến nhà của Đỗ Thị Phượng thuộc ấp Hòa Hưng, xã Hòa Bình Thạnh, cửa nhà mở nhưng không có người trong nhà nên Vĩnh đi vào nhà tìm tài sản lấy trộm. Thời điểm này, Phượng đang ngồi ở nhà kế bên phát hiện Vĩnh vào nhà của Phượng nên truy hô và cùng mọi người xung quanh giữ Vĩnh lại, đồng thời trình báo sự việc đến Công an xã Hòa Bình Thạnh.
Ngày 16/5/2023, Hoàng Thái Vĩnh bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Thành khởi tố để điều tra.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô màu xanh, biển số: 67H9-8997, số máy: VDPLC152FMH003865, số khung: VDPPCH0011P103865, đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 Core, màu xanh - đen, đã qua sử dụng. Đã trao trả cho bị hại Lê Thị Tuyết.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo U10, màu xanh - đen, đã qua sử dụng. Đã trao trả cho bị hại Nguyễn Văn Vũ Linh.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y11, màu xanh - đen, đã qua sử dụng. Đã trao trả cho bị hại Lê Văn Biệu.
Tại kết luận định giá số 04/KL.HĐ ngày 01/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, kết luận:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 Core, màu: xanh - đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 2.200.000 đồng x 80% = 1.760.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo U10, màu: xanh - đen, đã qua sử dụng, có giá trị là 3.600.000 đồng x 50% = 1.800.000 đồng.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y11, màu: xanh - đen, đã dụng, có giá trị là 2.990.000 đồng x 40% = 1.196.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản định giá là 4.756.000 đồng (Bút lục số: 71-72)
Tại cáo trạng số 48/CT-VKSCT-HS ngày 10/8/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang truy tố để xét xử bị cáo Hoàng Thái Vĩnh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình điều tra bị hại bà Lê Thị Tuyết; ông Lê Văn Biệu, anh Nguyễn Văn Vũ Linh; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Bích Tuyền; những người làm chứng chị Nguyễn Thị Trinh, Nguyễn Văn Phước, Đỗ Thị Phượng đều có lời khai trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu (Bút lục số: 11-12; 15-16; 66-67; 157-158; 59-62; 153-154).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thái Vĩnh từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, tạm giữ.
- Về vật chứng:
Trao trả cho Nguyễn Thị Bích Tuyền 01 xe mô tô màu xanh, biển số: 67H9-8997, số máy: VDPLC152FMH003865, số khung: VDPPCH0011P103865, đã qua sử dụng.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Các bị hại Lê Thị Tuyết; ông Lê Văn Biệu, anh Nguyễn Văn Vũ Linh; những người làm chứng chị Nguyễn Thị Trinh, Nguyễn Văn Phước, Đỗ Thị Phượng đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và những tình tiết vụ án đã nêu.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm trở về với gia đình, lo cho mẹ già và hai con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị hại Lê Thị Tuyết; ông Lê Văn Biệu, anh Nguyễn Văn Vũ Linh; những người làm chứng chị Nguyễn Thị Trinh, Nguyễn Văn Phước, Đỗ Thị Phượng đã được triệu tập hợp lệ những vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây cản trở cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Hoàng Thái Vĩnh khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với thời gian, đặc điểm các tài sản bị mất trộm, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở xác định, bị cáo đã lợi dụng việc bán vé số để tranh thủ sự sơ hở của các chủ sở hữu tài sản, trong lúc thấy nhà của các bị hại vắng người hoặc đang ngủ, bị cáo đã lét lút lấy trộm tài sản gồm ba chiếc điện thoại, tổng trị giá là 4.756.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. ………………………………….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác đều bị xử lý nghiêm khắc. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị cáo là người khỏe mạnh, có đủ điều kiện, khả năng lao động kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình, bị cáo có thể chọn việc làm chân chính để tạo thu nhập vừa nuôi sống bản thân và phụ giúp cho gia đình.
Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 15/5/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 16/6/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; ngày 16/7/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 20/3/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 27/7/2019 bị cáo chấp hành xong.
Qua nhiều lần được cải tạo, lẽ ra bị cáo phải biết ăn năn hối cải, sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân tốt, giúp ích cho xã hội nhưng ngược lại với bản tính tham lam, lười lao động, muốn có tiền tiêu xài mà không cần tốn công sức, bị cáo đã xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả xảy ra, bị cáo dùng thủ đoạn bán vé số dạo để đột nhập vào nhà người dân, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của các bị hại trong việc quản lý tài sản nên lén lút cố ý lấy trộm tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động nghèo, trình độ học vấn chưa cao, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Phía bị hại đã nhận lại tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội đối với bà Tuyết và ông Biệu đều là người đủ 70 tuổi trở lên, đây là tình tiết tăng nặng đối với bị cáo được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự.
Xử lý vật chứng:
+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03 Core, màu xanh - đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo U10, màu xanh - đen, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y11, màu xanh - đen, đã qua sử dụng. Các tài sản này đã được trao trả cho các bị hại Lê Văn Biệu, Lê Thị Tuyết; Nguyễn Văn Vũ Linh nên không đặt ra xem xét.
+ 01 xe mô tô màu xanh, biển số: 67H9-8997, số máy: VDPLC152FMH003865, số khung: VDPPCH0011P103865, đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở hữu của Nguyễn Thị Bích Tuyền. Chị Tuyền không biết bị cáo đã mượn xe để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định trao trả lại cho chị Tuyền.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSCT-HS ngày 10/8/2023).
Đề nghị của Viện kiểm sát: Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hoàng Thái Vĩnh và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thái Vĩnh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thái Vĩnh 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/5/2023).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Trao trả cho Nguyễn Thị Bích Tuyền 01 xe mô tô màu xanh, biển số: 67H9-8997, số máy: VDPLC152FMH003865, số khung: VDPPCH0011P103865, đã qua sử dụng.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKSCT-HS ngày 10/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang).
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Đối với các bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - Sở Tư pháp An Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Cơ quan điều tra CA huyện Châu Thành; - Cơ quan THA hình sự huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Bị cáo, bị hại (để thi hành); - Lưu: Hồ sơ, văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Việt Hồng Phượng Bùi Văn Sơn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Mỹ Linh |