- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Khương - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HS-PT Ngày: 08 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thiện Vinh
Các Thẩm phán:
Ông Lâm Bách
Bà Phạm Thị Anh Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Thanh K do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thanh K, sinh năm 1991 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Thôn A 2, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Thợ sơn; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H; có vợ là Lê Thị L và 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Bị hại không kháng cáo, không triệu tập: Anh Tài Đại T, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ, ngày 29/8/2022 khi Nguyễn Thanh K đang ở nhà thì chị Lê Anh T gọi điện thoại cho K nói “vợ mày đi đâu mà lâu vậy”. Nghi ngờ vợ mình có quan hệ tình cảm với anh Tài Đại T nên K mở điện thoại kiểm tra định vị xe mô tô của chị L thấy xe đang trong trạng thái dừng ở sân Trung tâm trồng trọt và bảo vệ thực vật huyện N. K điều khiển xe mô tô biển số 85F1 – 046.55 và đem theo con dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 24cm, bản dao rộng 07cm, cán dao làm bằng hộp thép vuông rộng 02cm, dài 13cm để ở ba ga xe với mục đích nếu bị đánh sẽ dùng dao đánh lại, đến Trung tâm trồng trọt và bảo vệ thực vật huyện N tại thôn A, xã X để tìm chị L. Thấy trời tối không có đèn chiếu sáng, xe mô tô của chị L cùng xe mô tô của anh T đang dựng ở sân nên K để lại xe mô tô rồi đi bộ vào trong tìm và bắt gặp chị L cùng anh T đang đi bộ ra chỗ để xe mô tô. K rất tức giận nên đã nhặt đá ném anh T, anh T khom người xuống và dùng hai tay ôm đầu đỡ thì K tiếp tục nhặt 02 cục bê tông to bằng lòng bàn tay trên bề mặt có dính đá 1x2 cầm hai tay xông vào đánh liên tiếp vào vùng đầu anh T. Thấy anh T bị đánh, chị L vào can ngăn nhưng không được nên đã đi về. Trong lúc K đánh anh T thì có anh Nguyễn Thanh V gọi điện thoại tới, K nghe điện thoại còn anh T bỏ chạy ra đường 705. Khi nghe điện thoại xong, K tiếp tục nhặt 01 cục đá rồi điều khiển xe mô tô đuổi theo anh T. Anh T chạy đến bãi tập kết rác cách Trung tâm trồng trọt khoảng 500m thì K đuổi kịp. K ném cục đá về phía anh T không trúng nên dùng tay trái cầm lấy con dao ở ba ga xe ra chém từ trên xuống về phía anh T, anh T đưa hai tay lên đỡ thì bị K chém trúng vào hai tay. K tiếp tục khua dao về phía anh Toàn thì anh Nguyễn Thanh V và anh Nguyễn Văn M đến can ngăn và chở K về nhà còn anh T thì được người dân đưa đi điều trị thương tích tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 212/TgT ngày 06/10/2022 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y tỉnh Ninh Thuận kết luận:
+ Vết thương chéo ngón II bàn tay trái sẹo liền phẳng kích thước (4,5x0,1)cm( 01%), còn đóng đinh xuyên ngón bàn, hạn chế vận động ngón II.
+ Vết thương chéo ngón II đốt II bàn tay phải sẹo liền lồi kích thước (2,1x0,2)cm (01%), co duỗi trong dưới hạn bình thường.
+ Vết thương chéo góc trán trái sẹo liền lồi kích thước (01x0,2)cm (01%).
+ Vết thương dọc thái dương trái sẹo liền di động kích thước (01x0,1)cm (01%).
+ 03 vết thương đỉnh đầu trái sẹo liền phẳng kích thước (2,8x0,3)cm (01%); (1,9x0,2)cm (01%); (5,5x0,2)cm (02%).
+ Vết thương dọc giữa đỉnh đầu sẹo liền tốt di động kích thước (2,3x0,3)cm (01%).
*Tường trình phẫu thuật: Gãy hở xương bàn ngón II bàn tay trái đứt hoàn toàn gân duỗi (01%), đứt hoàn toàn gân duỗi ngón II bàn tay phải (01%).
- Xquang:
+ Gãy xương mũi (07%).
+ Gãy xương bàn II bàn tay trái đã phẫu thuật chưa có can hoàn toàn còn phương tiện kết họp xương (06%).
*Cơ chế hình thành vết thương: 03 vết thương đỉnh trái và hai tay nhận định do vật sắt gây ra, còn lại là do vật tày gây ra.
*Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Tài Đại T là 22%.
Vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ và xử lý 03 cục bê tông, 01 viên đá không liên quan đến vụ án. Đối với 01 con dao bằng kim loại, lưỡi dao dài 24cm, bản dao rộng 07cm, cán dao làm bằng hộp thép vuông rộng 02cm, dài 13cm. Đây là công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Xe mô tô biển số 85F1 – 046.55 mà Nguyễn Thanh K sử dụng làm phương tiện để thực hiện tội phạm là của bà Nguyễn Thị H, bà H không biết mục đích sử dụng của K nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Về dân sự: Bị hại anh Tài Đại T yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng cộng các chi phí là 147.222.000 đồng.
Anh Tài Đại T cho rằng ngoài bị cáo gây thương tích còn 03 người khác gây thương tích cho anh. Nhưng anh không biết tên, biết mặt và không cung cấp chứng cứ gì khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận quyết định:
Căn cứ: điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh K 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 24/4/2023, bị cáo Nguyễn Thanh K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được chuyển từ hình phạt tù giam sang cải tạo không giam giữ.
Ngày 17/7/2023, bị cáo Nguyễn Thanh K nộp 5.208.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N để khắc phục hậu quả.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo K giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận:
- Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh K là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
- Về nội dung: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K mức án 14 tháng tù là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo K có nộp thêm 5.208.000đ để bồi thường cho bị hại, xét tình tiết giảm nhẹ này cấp sơ thẩm đã áp dụng và không ảnh hưởng đến việc lượng hình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Nguyễn Thanh K kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Do nghi ngờ vợ mình là chị Lê Thị L có quan hệ tình cảm bất chính với anh Tài Đại T nên khoảng 20 giờ ngày 29/8/2022, khi thấy chị L đang ở cùng anh T tại sân của Trung tâm trồng trọt và bảo vệ thực vật huyện Ninh Hải ở thôn A, xã X, huyện N, K tức giận và dùng cục bê tông và 01 con dao là hung khí nguy hiểm đánh, chém anh T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 22%.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Thanh K phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được chuyển từ hình phạt tù sang cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Thanh K: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng cố ý gây thương tích cho anh Tài Đại T. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo K: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; bị hại có một phần lỗi, bị cáo là lao động chính trong gia đình theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo K mức án 14 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Xét sau khi bị cáo dùng 02 cục bê tông tấn công ngưởi bị hại thì người bị hại bỏ chạy, bị cáo rượt đuổi theo và dùng dao chém tiếp vào tay người bị hại là thể hiện “Cố tình thực hiện tội phạm tới cùng”. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết này đối với bị cáo là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.
Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo có nộp thêm 5.208.000đ để bồi thường cho bị hại. Xét thấy, số tiền bị cáo nộp thêm và số tiền bị cáo đã nộp tại cấp sơ thẩm là đủ để bồi thường cho bị hại, cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo và bị cáo có thêm 01 tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được chuyển từ hình phạt tù giam sang cải tạo không giam giữ của bị cáo theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Thanh K phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh K; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2023/HS-ST ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.208.000đ (Năm triệu hai trăm lẻ tám ngàn đồng) do bị cáo Nguyễn Thanh K nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo biên lai thu tiền số 0001298 ngày 17/7/2023 để đảm bảo thi hành án bồi thường cho bị hại.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh K phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 08 - 8 - 2023./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND, TAND huyện N; - Công an huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Bị cáo; - PV 27 Công an tỉnh Ninh Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Phòng KTNV- THA; HCTP; - Lưu án văn, hồ sơ. Các Thẩm phán Phạm Thị Anh Trang Lâm Bách | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thiện Vinh Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Cao Thiện Vinh |