- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Kim Quyên cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Kim Q.. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Hồ Quốc H1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HS-PT Ngày: 08-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Ông Huỳnh Văn Út
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Ông Trịnh Xuân Miễn
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Trọng Quế
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Mộng - Kiểm sát viên.
Ngày 8 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Hồ Kim Q. do có kháng cáo của bị cáo và bị hại Hồ Quốc H1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HSST ngày 20-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
- Bị cáo kháng cáo và bị kháng cáo: Hồ Kim Q., sinh năm 1969, tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp Lộ Xe, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Văn Điền (chết) và bà Phan Kim Xuyên; Chồng: Đặng Quốc Việt (Đã ly hôn); Tiền án: Không; Tiền sự: 01 (Quyết định số: 44/QĐ-XPVPHC ngày 24-5-2021, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính 4.000.000 đồng về lĩnh vực đất đai chưa đóng phạt); Tạm giữ, tạm giam: Không; (Bị cáo tại ngoại có mặt).
- Bị hại kháng cáo: Ông Hồ Quốc H1, sinh năm 1978 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp Lộ Xe, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có kháng cáo không triệu tập
1. Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1988 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp Lộ Xe, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
2. Ông Võ Văn H2, sinh năm 1972 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp Lộ Xe, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
3. Bà Phan Kim X, sinh năm 1948 (Có mặt).
Địa chỉ: ấp Lộ Xe, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 13/4/2022 Hồ Kim Q. thuê 02 thợ hồ là anh Bùi Văn Ngoãn và anh Đặng Phước Tồn xây nền cất nhà, thì bà Phan Kim X đến ngăn cản nên anh Ngoãn và anh Tồn bỏ đi vô nhà của Q., thấy vậy chị Nguyễn Thị R (con của Q.) đi đến lấy cây xẻng vừa trộn hồ vừa cùng Q. cự cải qua lại với bà Xuyên, lúc này ông Hồ Quốc H1 chạy xe kéo cát đá đi ngang thấy sự việc, nên đi vào tiếp tục cự cãi với bị cáo Q. và chị R.
Bị cáo Q. thấy H1 đến, thì Q. bỏ đi vào nhà, trong lúc cự cãi với ông H1, 02 tay chị Riêng cầm cây xẻng trộn hồ quơ ngang đánh trúng vào hong bên phải của ông H1 01 cái; ông Huy dùng tay trái giật lấy cây xẻng trên tay chị Riêng và dùng tay phải đánh trúng đầu chị R 02 cái.
Lúc này, Q. từ trong nhà cầm khúc gỗ (đố vuông) có cạnh dài 92,5cm giơ lên cao chạy ra chỗ ông H1 và chị R đang giằng co, tay phải của Q. cầm khúc gỗ trên giơ lên khỏi đầu rồi đánh xuống 01 cái trúng vào vai trái ông H1, 02 tay ông H1 cầm cây xẻng giơ lên cao khỏi đầu, nhào tới đánh mạnh từ phải qua trái về hướng của Q., nhưng bị chị Riêng dùng 02 tay xô vai của anh H1, làm chệch hướng nên không trúng Q.. Cùng lúc này, Q. tiếp tục dùng tay phải cầm khúc gỗ đánh mạnh từ trên xuống trúng vào vùng đầu bên trái của ông H1 gây thương tích và làm khúc gỗ gãy thành 03 đoạn rơi xuống nền gạch, cây xẻng trong tay ông H1 đập xuống nền gạch gãy thành 02 đoạn, phần cán xẻng trúng vào cẳng chân phải của Q..
Cả 03 người tiếp tục giằng co, đánh nhau bằng tay, Q. chạy đi nhặt cục gạch ống cầm trên tay phải quay lại thì thấy đầu ông Huy bị chảy máu, nên bỏ đi vào nhà và kêu chị Riêng đi vào. Ông H1 nhặt phần dưới của cây xẻng bị gãy đuổi theo ném trúng phần lưng của chị R, chị R cầm ghế nhựa ném ông H1 rồi bỏ chạy ra phía trước nhà, ông H1 tiếp tục nhặt phần lưỡi xẻng chạy theo tới phía nhà trước ném trúng vào vùng bụng của chị Riêng, làm rớt phần lưỡi xẻng xuống đất rồi rượt theo Q. tiếp tục. Chị R nhặt lưỡi xẻng ném ông H1 nhưng không trúng, lúc này ông H1 phát hiện đầu bị thương, chảy nhiều máu nên bỏ đi, sau đó gọi điện thoại cho Công an xã Phú Hưng trình báo sự việc. Quá trình điều tra, Hồ Kim Q. khai nhận: Có cầm khúc cây gỗ trên đánh trúng vào người ông H1, nhưng không thừa nhận đánh trúng đầu của ông H1 gây thương tích.
Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 79/TgT-22 ngày 09/5/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Cà Mau kết luận dấu hiệu chính qua giám định thương tích của ông Hồ Quốc H1: 01 vết sẹo vùng trán – đỉnh trái (trong chân tóc), kích thước 07cm x 0,2cm. Tỷ lệ 02%. Do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế là 02%.
Kết luận khác: Thương tích do vật tày hoặc vật tày có cạnh tác động trực tiếp lên bề mặt cơ thể làm tổn thương da, cân, cơ, mạch máu. Sau khi điều trị để lại thương tích như trên.
Kết luận giám định số: 2517/KL-KTHS ngày 16/5/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu vật gửi giám định (01 khúc cây gỗ có cạnh bị gãy thành 03 đoạn tổng chiều dài 92,5cm, một đầu có cạnh dài nhất 3,4cm, một đầu có cạnh dài nhất 3,0cm) khi sử dụng tác động vào cơ thể người gây thương tích là hung khí nguy hiểm.
Vật chứng liên quan đến vụ án đã tạm giữ gồm:
- 01 (một) cây xẻng bị gãy thành 02 đoạn, tổng chiều dài 125,0cm, cán bằng gỗ có dạng tròn, lưỡi bằng kim loại, chu vi cán xẻng 12,0cm, chiều dài lưỡi xẻng là 26,3cm, chiều rộng nhất của lưỡi xẻng là 23,8cm, trên lưỡi xẻng có dính dấu vết màu nâu đỏ nghi là máu;
- 01 (một) khúc gỗ có cạnh bị gãy thành 03 đoạn, tổng chiều dài là 92,5cm; một đầu có cạnh dài nhất 3,4cm, một đầu có cạnh dài nhất 3,0cm;
- 01 (một) đoạn gỗ dài 33,5cm (là đoạn gỗ anh Huy và bị can Q. xác nhận không phải đoạn gỗ bị can Q. dùng đánh anh Huy gây thương tích);
- 01 (một) áo sơ mi nam tay ngắn, màu xanh đen, hoa văn màu trắng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HSST Ngày: 20-12-2022 của Tòa án nhân huyện Cái Nước đã quyết định:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 36; Điều 47; Các điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hồ Kim Q. phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Hồ Kim Q. 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Hồ Kim Q. cho Ủy ban nhân dân xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Trách nhiệm dân sự: Buộc Hồ Kim Q. bồi thường cho ông Hồ Quốc H1 số tiền 18.213.000 đồng (Mười tám triệu hai trăm mười ba nghìn đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 03-01-2023 bị cáo kháng cáo đề nghị tuyên bố bị cáo không phạm tội.
- Ngày 03-01-2023, bị hại kháng cáo tăng hình phạt đề nghị phạt tù đối với bị cáo; đồng thời tăng mức bồi thường thiệt hại theo yêu cầu từ cấp sơ thẩm là 45.546.293 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Bị hại: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HSST ngày 20-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị tuyên bị cáo không phạm tội; nếu không đề nghị hủy án trả hồ sơ điều tra bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo khai nhận: Cụ thể là vào khoảng 09 giờ ngày 13/4/2022 tại nhà của bị cáo thuộc ấp Lộ Xe, xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau do nhìn thấy bị hại H1 và con gái của bị cáo tên Nguyễn Thị R đang giằng co cây xẻng trên tay, sau đó bị hại H1 dùng tay đánh chị R, nên bị cáo Q. từ trong nhà lấy 01 cái cây chạy ra dùng tay cầm cây đánh vào người ông H1 nhiều cái, nhưng bị cáo xác định không có đánh trúng gây thương tích vùng đầu của ông H1. Tuy nhiên, xét lời khai của bị cáo là không phù hợp với các chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Nước thu thập được và lời khai của những người có mặt tại hiện trường. Bởi vì:
Theo nội dung 02 đoạn video do anh Hồ Khắc Ghi và Phan Trường Thịnh dùng điện thoại cá nhân quay phim lại thể hiện khi bị cáo từ trong nhà cầm cây chạy ra đến vị trí bị hại và chị R đang đánh nhau, thì bị cáo có thực hiện hành vi dùng tay cầm cây đánh trúng vào người bị hại nhiều cái, trong đó có đánh trúng vào vùng đầu của bị hại. Trước khi đánh nhau, thì vùng mặt và đầu của bị hại bình thường, nhưng sau khi đánh nhau thì đầu của bị hại bị chảy máu và máu chảy xuống ướt mặt.
Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều xác định sau khi bị cáo dùng cây đánh bị hại thì bị hại có bị chảy máu từ trên đầu chảy xuống mặt (Bút lục số 96). Lời khai này phù hợp với lời khai của những người có mặt tại hiện trường thấy bị cáo Q. dùng cây đánh bị hại H1 từ trên đầu xuống cháy máu (BL 85 – 90); vết thương của bị cáo phù hợp với hung khí đoạn cây (01 (một) khúc gỗ có cạnh bị gãy thành 03 đoạn, tổng chiều dài là 92,5cm; một đầu có cạnh dài nhất 3,4cm, một đầu có cạnh dài nhất 3,0cm); bị cáo dùng để đánh bị hại đã được giám định là hung khí nguy hiểm. Như vậy, có đủ cơ sở xác định thương tích trên vùng đầu của bị hại H1 bị thương tật 2% là do chính bị cáo Q. dùng cây đánh gây ra, phù hợp với kết quả giảm định pháp y về thương tích số 79/TgT-22 ngày 09/5/2022 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Cà Mau, kết luận dấu hiệu chính qua giám định thương tích của Hồ Quốc Huy: 01 vết sẹo vùng trán – đỉnh trái (chân tóc), kích thước 07cm x 0,2cm, tỷ lệ 02% do vật tày hoặc vật tày có cạnh gây ra. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên xử bị cáo Hồ Kim Q. về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Do đó, xét kháng cáo của bị cáo Q. cho rằng không phạm tội là không có cơ sở được chấp nhận.
Đối với kháng cáo của bị hại H1 đề nghị áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Xét tính chất vụ án, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo phạm tội. Bị cáo và bị hại là chị em ruột với nhau, chỉ vì tranh mâu thuẫn tranh chấp đất đai trong nội bộ gia đình chưa giải quyết xong; do không thể kiềm chế được nóng giận mà các bên đã xô xác nhau, dẫn đến bị hại là chị đã gây thương tích cho em là ông H1, lẽ ra việc này không đáng để xảy ra trong chị em gia đình. Xét hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ; bị hại cũng có một phần lỗi, nên án sơ thẩm đã tuyên xử Hồ Kim Q. 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ là phù hợp. Tuy nhiên, án sơ thẩm, tuyên miễn khấu trừ thu nhập, nhưng không nhận định trong Bản án; không nêu lý do, trong khi lý lịch bị cáo khai là mua bán (có thu nhập), tại tòa bị cáo khai mỗi ngày thu nhập trên 100.000 đồng, vì vậy cần buộc bị cáo khấu trừ thu nhập 5% trên mức thu nhập mỗi tháng 3.000.000 đồng = 150.000 đồng/tháng là phù hơp với Điều 36 Bộ luật Hình sự. Do đó, kháng cáo yêu cầu xử án giam đối với bị cáo là không được chấp nhận.
Đối với kháng cáo của bị hại đề nghị tăng mức bồi thường của bị cáo đối với bị hại, thấy rằng; do bị hại cũng có một phần lỗi, nên cấp sơ thẩm chấp nhận các khoản sau: Chi phí điều trị bệnh số tiền 11.779.000 đồng; Tiền thuê xe đi khám và điều trị bệnh 6.360.000 đồng; Tiền ăn của người bệnh và người nuôi bệnh 1.600.000 đồng; Tiền mất thu nhập của người bệnh và người nuôi bệnh 3.300.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần bằng 02 tháng lương cơ sở với số tiền 2.980.000 đồng. Tổng cộng các khoản là 26.019.000 đồng. Án sơ thẩm chia lỗi bị cáo 7 phần, bị hại 3 phần, nên tuyên buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 18.213.000 đồng là có căn cứ.
Tuy nhiên, trong tổng số tiền yêu cầu, bị hại có yêu cầu bị cáo bồi thường tổn thất tinh thần 15 tháng lương cơ sở là 22.350.000 đồng, án sơ thẩm chấp nhận 02 tháng lương cơ sở, là đã có xem xét đến tính chất vụ án, tỷ lệ thương tật bị cáo gây ra cho bị hại 2%, nhưng khi quyết định án sơ thẩm lại tiếp tục giảm 30% mức bồi thường 02 tháng lương cơ bản này là không phù hợp với Điều 590 Bộ luật dân sự về nguyên tắc bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần. Vì vậy, cần sửa một phần án sơ thẩm phần trách nhiệm dân sự như nhận định.
Như vậy, về trách nhiệm dân sự: Buộc Hồ Kim Q. bồi thường cho ông Hồ Quốc Huy số tiền 19.107.300 đồng (Mười chín triệu một trăm lẻ bảy nghìn ba trăm đồng). Ngoài ra, án sơ thẩm không tuyên về lãi chậm thi hành án phần bồi thường dân sự là có thiếu sót. Từ đó, cần sửa án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị hại về bồi thường thiệt hại; về không miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị về hinh phạt giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Về án phí:
- Sửa một phần án phí dân sự có giá ngạch sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm bị cáo phải chịu (chưa nộp); Bị hại không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 36, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 590 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hồ Kim Q.. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Hồ Quốc H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2022/HSST ngày 20-12-2022 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau về trách nhiệm dân sự.
Xử phạt: Hồ Kim Q. 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Hồ Kim Q. cho Ủy ban nhân dân xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Khấu trừ thu nhập của bị cáo Hồ Kim Q., mỗi tháng 150.000 đồng, cho đến khi chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ.
2. Trách nhiệm dân sự: Buộc Hồ Kim Q. bồi thường cho ông Hồ Quốc H1 số tiền 19.107.300 đồng (Mười chín triệu một trăm lẻ bảy nghìn ba trăm đồng).
Kể từ ngày ông Hồ Quốc H1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Hồ Kim Q. không thi hành thì còn phải chịu thêm lãi suất phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí:
- Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 955.365 đồng án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 1.155.000 đồng (Một triệu một trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
- Án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (chưa nộp); Bị hại không phải chịu.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Cái Nước; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước; - Công an huyện Cái Nước; - Chi cục THADS huyện Cái Nước; - UBND xã Phú Hưng, huyện Cái Nước; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Út |