- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trần P - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trần P, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt, sửa bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HS-PT Ngày: 19-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Liên.
Các Thẩm phán: Ông Lê Xuân Hải.
Ông Nguyễn Văn Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Trường là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Lệ Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 44/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo Lê Trần P do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện A.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Trần P, sinh năm 1998 tại Bình Định; nơi cư trú: Thôn L, xã A, huyện A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không xác định và bà: Lê Thị Bích O, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: ngày 15/3/2017 bị Công an huyện A xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” (đã chấp hành xong); bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra, còn có bị cáo Lê Ngọc L không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/3/2022, Lê Ngọc L, Phan Đặng T và Lê Văn H đang nhậu tại quán của chị Đinh Thị T ở thôn 7, thị trấn A thì có chị Đinh Thị T1 đến quán của chị T ăn cơm. L hỏi T1 và biết được chồng của T1 là Trần Ngọc L1 (thường gọi là K) đang ở quán nhậu tại ngã tư đầu cầu Đ (phía Tmangghen). L nảy sinh ý định tìm L1 đánh trả thù vì năm 2020 L1 đánh L. L gọi điện cho Lê Trần P và nói “tao nghe nói thằng K hôm trước đánh tao đang ở đầu cầu Đ, tao chuẩn bị đụng chuyện với nó, mày lên chở tao về với” thì P đồng ý. Do nghĩ L một mình và nhỏ con hơn L1 nên P muốn giúp L đánh L1. Lúc này, P đang ngồi uống nước tại quán MTV với Nguyễn Hữu T, Nguyễn Quốc H, Hồ Anh K và Đỗ Cao N. Sau đó, T điện thoại cho L hỏi “có chuyện gì vậy anh” thì L nói “không có chuyện gì”, L hỏi T mượn gậy bóng chày nhưng T nói không có thì L cúp máy. P vào rủ T “đi với anh lên trên đây thử, chớ thằng L nó có chuyện gì trên đó” thì T đồng ý đi với P với ý định lên để can ngăn và dẫn L về. P đến thuê xe ô tô biển số 77A-129.XX của Thái Thanh G (G không biết việc P thuê xe đi đánh nhau), điều khiển xe ra quán MTV để đón T thì H, K, N thấy nên lên xe đi theo (H, N, K không biết việc L đánh nhau).
P điều khiển xe ô tô đến quán của chị T đón L. P hỏi đi đâu thì L chỉ tay qua đầu cầu phía bên Tmangghen và nói với P “Đi qua đầu cầu bên kia, nó đang ở bên đó”. P chở L qua bên kia đầu cầu Đ. Khi đến ngã tư thì L nói P dừng lại, L xuống xe còn P quay đầu xe lại rồi dừng. L chạy đến quán chỗ đầu đường vào làng mới A, hỏi L1 ở đâu thì chị chủ quán chỉ chỗ L1 đang chất bia bên ngã tư phía đầu đường đi qua Tmangghen nên L chạy lại thấy L1 đang chất bia lên xe mô tô. L đến lấy 02 chai bia Qui Nhơn trong két bia ra, tiến về phía L1, rồi L cầm chai bia giơ lên cao đánh vào lưng L1 02 cái thì L1 tránh được, làm 01 chai bia rơi xuống đất, 01 chai bia đập vào song sắt giỏ xe nên bị vỡ. L1 bỏ chạy thì chiếc xe mô tô chở hàng bị ngã. L nhặt con dao Thái Lan chỗ gần xe mô tô cầm ở tay trái, còn tay phải cầm 01 chai bia bị bể, đuổi theo L1. Lúc này, P cũng xuống xe chạy đuổi theo để giúp L nhưng không theo kịp. L1 chạy được một đoạn thì quay lại rọi đèn pin về phía L, L cầm chai bia bể ném về phía L1 nhưng không trúng rồi đổi cầm con dao qua tay phải và tiếp tục đuổi theo L1. Chạy được một đoạn thì L1 trượt chân ngã ở bụi cỏ phía bên trái đường, tại vị trí ngã tư (có bóng đèn năng lượng mặt trời), lúc này L đuổi kịp. L thấy L1 đang lom khom đứng dậy thì L xông đến cầm dao ở tay phải, đâm nhiều nhát vào người L1, trúng 04 nhát ở vùng lưng, bả vai phải và tay trái; vừa đâm L vừa nói với L1 “mày nhớ tao không?”. L1 bỏ chạy về hướng thôn Tmangghen; L không đuổi theo nữa, mà vứt con dao ở bờ mương gần đó rồi đi về. Khi L quay lại thì thấy P vừa chạy đến, P nói “thôi đi về” thì L và P cùng đi về ra chỗ đậu xe rồi cả nhóm đi về.
Anh Trần Ngọc L1 được đưa đến Bệnh viện Đa khoa khu vực B để điều trị từ ngày 30/3/2022 đến ngày 05/4/2022 thì xuất viện.
Tại Kết luận giám định pháp y số 99/2022/PY-TgT ngày 13/5/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bình Định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Ngọc L1 là 16%.
Về dân sự: Bị cáo Lê Ngọc L đã bồi thường cho anh Trần Ngọc L1 145.000.000 đồng. Anh L1 không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2023/HS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện A đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trần P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Trần P 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo Lê Trần P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Lê Ngọc L, về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Ngọc L và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, bị cáo Lê Trần P kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định và đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt, sửa bản án sơ thẩm về việc miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Trần P khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 30/3/2022, khi nghe bị cáo Lê Ngọc L gọi điện thoại nói về việc chuẩn bị đi đánh anh Trần Ngọc L1 để trả thù và nhờ P đến chở về thì P đồng ý. P thuê xe ô tô biển số 77A-129.XX của anh Thái Thanh G với mục đích đến giúp L đánh anh L1 và chở L về. Sau đó, P điều khiển xe tới đón L và chở L đến quán nhậu của anh Trần Ngọc L1 ở thôn T, xã A, huyện A. Tại đây, L đã rượt đuổi để đánh anh L1. Khi anh L1 bị vấp ngã, L đã dùng dao đâm 04 nhát vào vùng lưng, bả vai và tay anh L1 gây thương tích. P cũng đuổi theo để giúp L nhưng không kịp. Hậu quả, anh L1 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Trần P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Trần P, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người giúp sức tích cực cho bị cáo L: đã thuê xe ô tô chở bị cáo L đi đánh bị hại, khi thấy bị hại bỏ chạy, bị cáo còn rượt đuổi theo, để hỗ trợ cho bị cáo L. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến nhân thân của bị cáo và áp dụng tình tiết giảm nhẹ như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội là cần thiết. Tại phiên tòa phúc thẩm, ngoài Giấy chứng nhận bị cáo là thành viên hộ cận nghèo, bị cáo không đưa ra được chứng cứ, tình tiết gì mới để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt, sửa bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm.
Về án phí: Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo Lê Trần P là thành viên hộ cận nghèo, nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm. Do đó, sửa bản án sơ thẩm về việc buộc bị cáo P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Lê Ngọc L, về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Ngọc L không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trần P, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt, sửa bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm.
1.1. Xử phạt bị cáo Lê Trần P 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
1.2. Về án phí: Bị cáo Lê Trần P được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.
2. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Lê Ngọc L, về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lê Ngọc L không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - Vụ GĐKT.1 TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - Cơ quan HSNV CA tỉnh Bình Định; - Cơ quan THAHS CA huyện A; - TA, VKS, CQĐT CA huyện A; - Chi cục THADS huyện A; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Liên |