- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Văn H. Anh Phạm Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hi.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
---
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu và ông Đặng Quang Hoạch
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1238/2022/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 12 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 11/4/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn H, sinh năm 1987. HKTT: Thôn T, xã Hồng T, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Thôn T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Hi, sinh năm 1989. HKTT: Thôn T, xã Hồng T, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Thôn T, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Anh H, chị Hi vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn Phạm Văn H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Hi tự nguyện kết hôn, được UBND xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 01/6/2009. Anh chị chung sống có hai con chung tên Phạm Thành L, sinh ngày 25/5/2009 và Phạm Thành N, sinh ngày 10/4/2011. Nguyên nhân anh xin ly hôn với chị Hi vì anh cho rằng anh chị khác nhau về tính cách, quan điểm sống trong sinh hoạt gia đình, nuôi dạy con cái, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không còn tìm được tiếng nói chung. Anh không còn tình cảm thương yêu đối với chị Hi, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh xin ly hôn với chị Hi. Về con chung: Anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thành L, sinh ngày: 25/5/2009 và đề nghị giao con chung tên Phạm Thành N, sinh ngày 10/4/2011 cho chị Hi trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên kia. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: Không có.
- Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn Nguyễn Thị Hi vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Phạm Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hi. Về con chung: Đề nghị Tòa án giao cho anh Phạm Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thành L, sinh ngày 25/5/2009; chị Nguyễn Thị Hi được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thành N, sinh ngày 10/4/2011. Tạm thời, Anh H, chị Hi không phải nộp cho nhau tiền dưỡng nuôi con. Về án phí: Anh Phạm Văn H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
[1.2] Anh Phạm Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị Hi đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Anh H, chị Hi.
Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy:
Về yêu cầu xin ly hôn: HĐXX xét thấy quan hệ giữa Anh H và chị Hi là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì anh chị lấy nhau tự nguyện, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn. Anh H cho rằng vợ chồng anh chị mâu thuẫn trầm trọng, anh không còn tình cảm thương yêu chị Hi. Tòa án đã mời chị Hi đến Tòa tham gia hòa giải, xét xử nhưng chị không đến. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa Anh H và chị Hi trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho Anh H được ly hôn với chị Hi.
Về con chung: Anh H cho rằng cháu Phạm Thành L đang ở với anh, còn cháu Phạm Thành N đang ở với chị Hi nên anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Thành L, sinh ngày 25/5/2009 và đề nghị Tòa giao cháu Phạm Thành N, sinh ngày 10/4/2011 cho chị Hi trực tiếp nuôi dưỡng. Để tránh làm thay đổi môi trường sống của các cháu, HĐXX giao cháu Phạm Thành L, sinh ngày 25/5/2009 cho Anh H trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Thành N, sinh ngày 10/4/2011 cho chị Hi trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời, Anh H, chị Hi không phải nộp cho nhau tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Đương sự khai không có nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.
Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Văn H. Anh Phạm Văn H được ly hôn với chị Nguyễn Thị Hi.
2. Về con chung: Anh Phạm Văn H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thành L, sinh ngày 25/5/2009; chị Nguyễn Thị Hi được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phạm Thành N, sinh ngày 10/4/2011. Tạm thời, Anh H, chị Hi không phải nộp cho nhau tiền dưỡng nuôi con. Không ai được cản trở quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, vì lợi ích của con, khi điều kiện thay đổi, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về án phí: Anh Phạm Văn H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh đã nộp theo biên lai thu số 0002123, ngày 05/12/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom qua nộp án phí. Anh Phạm Văn H đã nộp đủ án phí.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Trảng Bom; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - UBND xã Hồng Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (số 63, 2008); - Chi cục T.H.A. dân sự huyện Trảng Bom; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Loan |