- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Van Dinh Hung; Phan Thi Binh"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho anh Văn Đình H được ly hôn chị Phan Thị B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:52/2023/HNGĐ - ST Ngày: 29/3/2023 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hiền
2. Ông Hoàng Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2023/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐST- HNGĐ ngày 16/3/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Văn Đình H, sinh năm 19xx. Địa chỉ: Xóm Văn Th, xã Thanh K, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Chị Phan Thị B, sinh năm 19xy. Hộ khẩu thường trú: Xóm Văn Th, xã Thanh K, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Thôn Thanh S, xã Đại Đ, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Văn Đình H trình bày như sau:
Về hôn nhân: Anh kết hôn với chị Phan Thị B vào ngày 01 tháng 10 năm 2019 trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thanh K, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, về sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tình tình vợ chồng không hợp, vợ tự ý bỏ về bên ngoại. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay anh Văn Đình H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nguyện vọng xin được ly hôn chị Phan Thị B.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Văn Thị Như Ng, sinh ngày 07/8/2020. Anh Văn Đình H có nguyện vọng giao con chung của vợ chồng cho chị Phan Thị B trực tiếp nuôi dưỡng và anh xin tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung và nợ: Anh Văn Đình H không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại bản tự khai và đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt bị đơn chị Phan Thị B có ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Văn Đình H vào ngày 01 tháng 10 năm 2019 trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thanh K, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, về sau phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chồng hay đánh đập vợ, mâu thuẫn với gia đình chồng. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, Anh Văn Đình H xin ly hôn chị cũng đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Văn Thị Như Ng, sinh ngày 07/8/2020. Chị Phan Thị B có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh Văn Đình H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu)
Về chia tài sản và nợ: Chị Phan Thị B không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho anh Văn Đình H được ly hôn chị Phan Thị B.
Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Văn Thị Như Ng, sinh ngày 07/8/2020 cho chị Phan Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc anh Văn Đình H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Phan Thị B mỗi tháng từ 800.000 đồng đến 1.500.000 đồng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về chia tài sản và nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Anh Văn Đình H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án thuộc trường hợp Tòa án không hoà giải được vì bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án được quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Văn Đình H và chị Phan Thị B là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân UBND xã Thanh K, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An vào ngày 01/10/2019. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Anh Văn Đình H xin ly hôn thì chị Phan Thị B cũng đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa anh Văn Đình H và chị Phan Thị B chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Văn Đình H, xử cho anh được ly hôn với với chị Phan Thị B là đúng với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Văn Thị Như Ng, sinh ngày 07/8/2020. Anh Văn Đình H có nguyện vọng giao con chung của vợ chồng cho chị Phan Thị B trực tiếp nuôi dưỡng và anh xin tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con. Ý kiến chị Phan Thị B đồng ý và yêu cầu anh Văn Đình H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Hội đồng xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự về việc nuôi con không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên ghi nhận, giao con chung là cháu Văn Thị Như Ng, sinh ngày 07/8/2020 cho chị Phan Thị B trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, đúng với quy định tại các Điều 81,82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về phần cấp dưỡng anh Văn Đình H xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Phan Thị B yêu cầu anh Hưng cấp dưỡng 01 triệu đồng/tháng. Hội đồng xét xử xét thấy việc nuôi con là trách nhiệm của cả hai vợ chồng. Khi giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng thì bên còn lại phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng cho bên trực tiếp nuôi. Trong vụ án vợ chồng thống nhất giao con chung cháu Văn Thị Như Ng cho chị Phan Thị B trực tiếp nuôi dưỡng vì vậy buộc anh Văn Đình H phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho chị Phan Thị B mỗi tháng 01 triệu đồng đến khi con trưởng thành là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về chia tài sản và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Văn Đình H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:
Về hôn nhân: Cho anh Văn Đình H được ly hôn chị Phan Thị B.
Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Văn Thị Như Ng, sinh ngày 07/8/2020 cho chị Phan Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Văn Đình H phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho chị Phan Thị B mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) cho đến khi cháu Văn Thị Như Ng trưởng thành đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Về án phí: Anh Văn Đình H phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn)đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) theo biên lai số 0009333 ngày 22/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Anh Văn Đình H phải nộp tiếp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| - TAND tỉnh Nghệ An; - VKS huyện Thanh Chương; - Chi cục THA dân sự H.Thanh Chương; - UBND xã Thanh Kh,H.T/Chương; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Ngọc Anh TrÇn V¨n Dòng |