- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05-9-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Tuyết Dung.
2. Ông Đặng Văn Trị.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thìn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1996 (Có mặt)
Trú tại: Thôn TT, xã B, huyện T, Bình Định.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
Trú tại: Thôn A, xã TB, huyện T, Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn yêu cầu ly hôn), bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày: chị và anh Nguyễn Văn T do tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau được hai bên gia đình chấp nhận, có tổ chức đám cưới theo phong tục nhưng không nhớ rõ ngày tháng năm. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã TB vào ngày 29/01/2019. Sau khi cưới chị và anh Nguyễn Văn T sống hạnh phúc được hơn 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Lý do chị và anh T tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên kình cãi, xúc phạm nhau. Đến cuối năm 2021 vợ chồng cắt đứt quan hệ phần ai nấy sống, bỏ mặc không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay xét thấy không còn tình cảm yêu thương gì, chị yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: chị và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Đông Q, sinh ngày 21/7/2020, giới tính nam (hiện đang sống với chị). Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến trưởng thành; yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con hàng tháng mỗi tháng 3.000.000đ, bắt đầu từ tháng 10/2023 cho đến khi con chung (Q) đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên Tòa hôm nay, bị đơn anh Nguyễn Văn T vắng mặt không có lý do: anh Nguyễn Văn T đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập, Quyết định xét xử nhưng vẫn vắng mặt, không cung cấp lời khai và yêu cầu đối với vụ án.
Biên bản xác minh ngày 22/5/2023, Công an xã TB cung cấp: anh Nguyễn Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã TB, huyện T, Bình Định; anh T hiện có mặt ở địa phương.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu:
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đa phần đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên còn có một vài vi phạm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 BLTT Dân sự 2015. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTT Dân sự 2015.
Về quan điểm giải quyết vu ̣ án: đề nghi ̣ HĐXX áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 107, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên xử: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: giao con chung là Nguyễn Hoàng Đông Q, sinh ngày 21/7/2020 cho chị N nuôi dưỡng đến trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với mức 900.000đ/tháng; bắt đầu thực hiện việc cấp dưỡng từ tháng 10/2023 cho đến khi con chung (Q) đủ 18 tuổi; không chấp nhận yêu cầu của chị N về việc buộc cấp dưỡng với mức 3.000.000đ/ tháng vì không phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N với anh Nguyễn Văn T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TB vào ngày 29/01/2019 đúng theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
Sau khi cưới, vợ chồng chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, hai bên bất đồng nhiều trong cuộc sống mà không giải quyết được dẫn đến vợ chồng thường xuyên bất hòa. Chị N và anh T đã cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau từ cuối năm 2021. Vợ chồng xa cách đã lâu nhưng anh T vẫn bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị N yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Chị N và anh T có 01 con chung tên: Nguyễn Hoàng Đông Q (nam), sinh ngày 21/7/2020, hiện do chị N nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi dưỡng con chung (Q) đến trưởng thành. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu này của chị Nguyễn Thị N là đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của trẻ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nghị nên chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N yêu cầu anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức 3.000.000đ/tháng; yêu cầu này là không phù hợp với quy định tại các Điều 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên HĐXX chỉ chấp nhận một phần: Buộc anh T phải thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung kể từ tháng 10/2023 với mức 1.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: cần buộc chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0007850 ngày 20/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị N đã nộp đủ án phí.
Án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84, 107 và 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N:
- Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Giao con chung tên: Nguyễn Hoàng Đông Q (nam), sinh ngày 21/7/2020 cho chị Nguyễn Thị N tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Nguyễn Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức 1.000.000đ/tháng, bắt đầu thực hiện từ tháng 10/2023 cho đến khi con chung (Q) đủ 18 tuổi.
Không chấp nhận yêu cầu của chị N về việc buộc anh T phải thực hiện cấp dưỡng với mức 3.000.000đ/ tháng vì không phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
Bên không trực tiếp nuôi con nhưng vẫn có quyền thăm nom, giúp đỡ con chung, không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu nên miễn xét.
2/ Về án phí sơ thẩm:
- Án phí ly hôn: chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ - tạm ứng án phí đã nộp trước theo biên lai số 0007850 ngày 20/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; chị N đã nộp đủ án phí.
- Án phí đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
3/ Quyền kháng cáo: Chị N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
4/ Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn; - UBND xã TB; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Giang Nam |