- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13-3-2023 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Tự
Ông Bùi Văn Phục
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 499/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1991; Địa chỉ: ấp P, xã L, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Anh Đặng Văn L, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp P, xã L, huyện H, tỉnh Hậu Giang.
Các đương sự có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Tr trình bày: Về quan hệ hôn nhân, chị và anh Lượm tự nguyện kết hôn năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Long, huyện Phụng Hiệp. Trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng từ cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh Lượm thường xuyên uống rượu khi về nhà có hành vi bạo hành và có những lời lẽ xúc phạm danh dự chị. Sự việc diễn ra trong thời gian dài, chị nhiều lần khuyên ngăn nhưng không thành, từ đó làm cho tình cảm chị và anh Lượm ngày càng phai nhạt, hôn nhân không hạnh phúc. Do mục đích hôn nhân không thể tiếp tục nên chị xin ly hôn với bị đơn; Về con chung, có hai con chung gồm cháu Đặng Hoàng Gia H (giới tính nam), sinh ngày 29/10/2015 và cháu Đặng Hoàng Gia H1 (giới tính nam), sinh ngày 13/01/2020. Sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu Hưng còn cháu Huy giao bị đơn nuôi các bên không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Anh Đặng Văn L trình bày: Về quan hệ hôn nhân, anh thừa nhận có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Trong quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn đúng như nội dung trình bày của nguyên đơn, do hôn nhân không thể hàn gắn được nên thống nhất ly hôn với nguyên đơn; Về con chung, có hai con chung gồm cháu Đặng Hoàng Gia H (giới tính nam), sinh ngày 29/10/2015 và cháu Đặng Hoàng Gia H1 (giới tính nam), sinh ngày 13/01/2020. Sau khi ly hôn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu cấp dưỡng; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau: Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Về nội dung vụ án, đề nghị: Về quan hệ hôn nhân, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về con chung bị đơn trực tiếp nuôi, nguyên đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu nên không xem xét.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn có thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên hôn nhân của nguyên đơn và bị đơn được pháp luật công nhận là vợ chồng. Khi mâu thuẫn xảy ra không thể hàn gắn được nên nguyên đơn xin ly hôn với bị đơn và bị đơn thống nhất ly hôn với nguyên đơn. Cả hai đều cho rằng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau mà mạnh ai nấy sống từ cuối năm 2021 đến nay. Điều đó cho thấy các đương sự không tha thiết hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Xét quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn.
Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều có yêu cầu được nuôi con chung nhưng tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý giao hai con chung cho bị đơn nuôi dưỡng và bị đơn cũng thống nhất nuôi hai con chung, không yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con chung đồng thời tạo điều kiện để nguyên đơn được quyền thăm nom, chăm sóc con theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, bị đơn được trực tiếp nuôi cháu Đặng Hoàng Gia H (giới tính nam), sinh ngày 29/10/2015 và cháu Đặng Hoàng Gia H1 (giới tính nam), sinh ngày 13/01/2020, nguyên đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 9, 53, 56, 57, 81, 82, 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện ly hôn giữa Chị Nguyễn Thị Tr và Anh Đặng Văn L.
2. Về con chung: Anh Đặng Văn L được trực tiếp nuôi cháu Đặng Hoàng Gia H (giới tính nam), sinh ngày 29/10/2015 và cháu Đặng Hoàng Gia H1 (giới tính nam), sinh ngày 13/01/2020. Chị Nguyễn Thị Tr chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền trông nom, chăm sóc con chung cho Chị Nguyễn Thị Tr, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí: Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Tr phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008376 ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp thành án phí.
5. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Phụng Hiệp; - Chi cục THADS huyện Phụng Hiệp; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân nơi thực hiện đăng ký kết hôn; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Hiếu |