vanban.org

Bản án 52/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Danh B.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Danh B và chị Danh Thị Sà B là vợ chồng. Về con chung: Anh Danh B và chị Danh Thị Sà B tự khai có 02 (hai) con chung là Danh Thị Ngọc P (nữ, sinh ngày 15-8-1995) và Danh Thị Ngọc H (nữ, sinh ngày 06-7-1997). Hiện nay cháu Danh Thị Ngọc P(nữ, sinh ngày 15-8-19… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Danh B và Danh Thị Sà B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Danh B.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ TÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03-7-2023
V/v không công nhận quan hệ vợ chồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Kiệt.

Bà Phạm Thị Bích Ly.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh là thư ký Tòa án nhân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 70/2023/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 5 năm 2023 về việc không công nhận quan hệ vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Danh B, sinh năm: 1979; Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Danh Thị Sà B, sinh năm: 1979; Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 5 năm 2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Danh B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Danh B và chị Danh Thị Sà B chung sống với nhau vào năm 1994, có tổ chức tiệc cưới nhưng không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn anh B, chị Bchung sống tại ấp T, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng anh B, chị Bchung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2018 thì anh B, chị Bphát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn về kinh tế, trong cuộc sống vợ chồng anh B, chị B không tìm được tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, dù đã hàn gắn nhiều lần nhưng đều không thành nên anh B và chị Bđã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Khi anh B, chị Bsống ly thân thì mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Nay anh Danh B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu Toà án giải quyết không công nhận anh B và chị Danh Thị Sà B là vợ chồng.

Về con chung: Trong thời gian anh B, chị B chung sống có 02 (hai) con chung là Danh Thị Ngọc P (nữ, sinh ngày 15-8-1995) và Danh Thị Ngọc H (nữ, sinh ngày 06-7-1997). Hiện nay cháu Danh Thị Ngọc P (nữ, sinh ngày 15-8-1995), cháu Danh Thị Ngọc H (nữ, sinh ngày 06-7-1997) đã đủ 18 (mười tám) tuổi, có công việc làm ổn định nên anh Danh B không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Danh B tự khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét.

Tại Biên bản lấy lời khai lập ngày 09 tháng 6 năm 2023 bị đơn chị Danh Thị Sà B trình bày: Chị Bthống nhất với lời trình bày của anh B về thời gian chung sống, chị Buônl, anh B chung sống với nhau vào năm 1994, chỉ tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn như lời trình bày của anh B, khi mâu thuẫn chị Buônl, anh B nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không được. Nay anh B yêu cầu không công nhận giữa anh B và chị Blà vợ chồng thì chị Bđồng ý.

Về con chung thì trong thời gian chị Bchung sống với anh B có 02 (hai) con chung là Danh Thị Ngọc P (nữ, sinh ngày 15-8-1995) và Danh Thị Ngọc H (nữ, sinh ngày 06-7-1997), hiện nay cháu Phượng, cháu Hoa đã đủ 18 (mười tám) tuổi, có công việc làm ổn định đủ nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung thống nhất lời trình bày của anh B không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Danh B, bị đơn chị Danh Thị Sà B vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Danh B cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn anh Danh B nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Danh B và thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Danh B yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Danh B và bị đơn chị Danh Thị Sà B, cư trú tại ấp T, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Danh B và chị Danh Thị Sà B xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống theo anh B, chị Btrình bày do bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn trong kinh tế, trong cuộc sống vợ chồng anh chị không tìm được tiếng nói chung, từ đó dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn anh B, chị Bnhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, anh B, chị Bsống ly thân từ năm 2019 đến nay, khi anh B, chị Bsống ly thân anh chị không ai quan tâm, chăm sóc cho ai, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay anh Danh B yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố không công nhận anh Danh B và chị Danh Thị Sà B là vợ chồng.

Xét thấy, anh Danh B và chị Danh Thị Sà B sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 1994 có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Mặc khác, theo điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Nên việc anh Danh B yêu cầu không công nhận quan hệ giữa anh B, chị Blà vợ chồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Nguyên đơn anh Danh B và bị đơn chị Danh Thị Sà B tự khai có 02 (hai) con chung là Danh Thị Ngọc P(nữ, sinh ngày 15-8-1995) và Danh Thị Ngọc H(nữ, sinh ngày 06-7-1997), hiện nay cháu Phượng, cháu Hoa đã đủ 18 (mười tám) tuổi, có công việc làm ổn định đủ nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn anh Danh B và bị đơn chị Danh Thị Sà B tự khai không có tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn anh Danh B phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm b khoản 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09 tháng 6 năm 2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000.

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Danh B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Danh B và chị Danh Thị Sà B là vợ chồng.

2. Về con chung: Anh Danh B và chị Danh Thị Sà B tự khai có 02 (hai) con chung là Danh Thị Ngọc P (nữ, sinh ngày 15-8-1995) và Danh Thị Ngọc H (nữ, sinh ngày 06-7-1997). Hiện nay cháu Danh Thị Ngọc P(nữ, sinh ngày 15-8-1995) và Danh Thị Ngọc H (nữ, sinh ngày 06-7-1997) đã đủ 18 (mười tám) tuổi và có công việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Danh B và chị Danh Thị Sà B tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh Danh B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo biên lai thu tiền số 0009230, ngày 15 tháng 5 năm 2023 nguyên đơn anh Danh B đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ