- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án HNGĐ T-H"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Mỹ T được ly hôn với bà Đình Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST Ngày 14-7-2023 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thúy Kiều
Ông Trà Minh Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như-Kiểm sát viên.
Ngày 14-7-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 67/2023/TLST-HNGĐ ngày 04-5-2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26-6-2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Mỹ T, sinh năm 1995; Địa chỉ: ấp S, xã P, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện nay: ấp Đ, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Đình Văn H, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trịnh Thị Mỹ T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2018, bà T với ông H tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi kết hôn thì bà T lên Bình Dương làm còn ông H thì sống chung với cha mẹ ruột khoảng 02 tháng đến 03 tháng thì mới lên thăm vợ con một lần, thời gian đầu hôn nhân thì ông bà chung sống hạnh phúc với nhau, nhưng về sau thì bắt đầu phát sinh nhiều mẫu thuẫn vì tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, vợ chồng ông bà không còn quan tâm chăm sống lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn, bà T và ông H ly thân từ khoảng tháng 01 năm 2020 cho đến nay. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông H.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà T với ông H có 01 người con chung là Đình Trịnh Phúc K (nam, sinh ngày 15-12-2019). Bà T trình bày từ khi sinh cháu K cho đến nay thì cháu K đều do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, còn ông H khoảng 02 tháng đến 03 tháng mới lên thăm con 01 lần. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu K đến tuổi thành niên và do bà T có thu nhập ổn định, hàng tháng lương của bà T từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nên không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn là ông Đình Văn H trình bày:
Ông H thống nhất với lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, về tài sản chung và nợ chung. Do tình cảm vợ chồng giữa ông H với bà T không thể hàn gắn nhưng ông H chỉ đồng ý ly hôn với bà T trong trường hợp bà T giao con chung là cháu K cho ông trực tiếp nuôi dưỡng để tuổi trưởng thành và cũng không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra, ông H trình bày hiện nay đang sống chung nhà với mẹ và em ruột, cha mẹ có cho ông căn nhà và đất ruộng để canh tác nên ông đủ điều kiện nuôi con.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trịnh Thị Mỹ T yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn và nuôi con với ông Đình Văn H có nơi cư trú tại xã K, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn và Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H tổ chức lễ cưới, kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 10-4-2018 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và tại thời điểm kết hôn T và H đủ điều kiện kết hôn, không vi phạm điều cấm kết hôn. Vì vậy, hôn nhân giữa T và H là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Trong thời gian đầu chung sống, thì bà T và ông H sống rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cãi nhau, không còn quan tâm chăm sống lẫn nhau, không còn tình cảm vợ chồng, ông bà đã ly thân khoảng tháng 01 năm 2020 cho đến nay. Do đó, bà T và ông H đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, không sống chung với nhau như vợ chồng, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc hàng ngày trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014.
Xét thấy, thực trạng mâu thuẫn trong tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông H đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
. Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà T với ông H có 01 người con chung là Đình Trịnh Phúc K (nam, sinh ngày 15-12-2019). Sau khi ly hôn, thì bà T và ông H đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K và đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, do cháu K từ khi sinh ra cho đến hiện nay đều do bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, cháu K đang sống ổn định, được đảm bảo việc học hành, cháu K cũng mới hơn 03 tuổi, con ông H thì lại không thường xuyên gần cháu K để chăm sóc cháu. Do đó, nhằm ổn định sự phát triển về mọi mặt tâm sinh lý, đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như học hành của cháu K nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 tiếp tục giao cháu K cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (18 tuổi) là phù hợp. Ngoài ra, do bà T hiện nay có công việc thu nhập ổn định có thể tự nuôi dưỡng cháu K và tự nguyện không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Ông Đình Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T trình bày là không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Bà Trịnh Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 53; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Mỹ T được ly hôn với bà Đình Văn H.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đình Trịnh Phúc K (nam, sinh ngày 15-12-2019) cho bà Trịnh Thị Mỹ T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu K đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống mình. Ông Đình Văn H không cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Đình Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung là Đình Trịnh Phúc K mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trịnh Thị Mỹ T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Trịnh Thị Mỹ T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006902 ngày 28-4-2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên bà Trịnh Thị Mỹ T đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện L; - UBND xã K, huyện L, tỉnh Sóc Trăng - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Bảo Quốc |