- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp người trực tiếp nuôi con sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về "Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án" của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21-8-2023 Về việc: “Thay đổi người trực tiếp Nuôi con chung sau ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đình Kiên
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Vinh
Ông Trần Văn Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Hường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 38/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/3/2023 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXX-ST ngày 10/7/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1960; Trú tại: Số 8, N2, đường 16 tháng 4, phường M H, thành phố P R – T T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Bà Lưu Thị H, sinh năm 1976; Trú tại: Tổ 1, khu phố S Đ, phường T X, thành phố Đ X, tỉnh Bình Phước.
Người có quyền lợi cần được bảo vệ cháu: Nguyễn Ngọc Mỹ T, sinh năm 2007. Trú tại: Tổ 1, khu phố S Đ, phường T X, thành phố Đ X, tỉnh Bình Phước.
(Bà H có mặt tại phiên toà, ông S, cháu T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin vắng mặt tại phiên toà nguyên đơn Nguyễn Ngọc S trình bày:
Trước đây ông Nguyễn Ngọc S và bà Lưu Thị H là vợ chồng. Vợ chồng ông S, bà H đã ly hôn bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự số 09/2018 ngày 05/01/2018 của Toà án nhân dân thị xã Đồng Xoài ( nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước.
Ông S khởi kiện đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Nguyễn Ngọc Mỹ T, sinh ngày 22/10/2007 với lý do tháng 6/2018 ông S chuyển ra tỉnh Ninh Thuận sinh sống và làm ăn thì bà H ngăn cản ông S liên lạc với cháu T bằng việc thu lại điện thoại của con chung ông S, bà H là cháu T, điều đó làm ông S không liên lạc được với con. Bà H trước đó ở nhà trọ tại phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài. Sau khi bà H mua nhà dọn ra ở đến phường Tân Xuân cũng không thông báo địa chỉ mới cho ông S để ông S thăm con. Ông S không liên lạc được với con đến cuối năm 2020 thì ông S mới liên lạc được với con. Hiện nay thì ông S đã liên lạc và thăm nom được cháu T. Tuy hiện nay bà H không ngăn cản ông S thăm nom, chăm sóc cháu T nhưng bà H đã vi phạm nghĩa vụ khi ngăn cản ông S liên hệ với con nên ông S yêu cầu: Giao cháu Nguyễn Ngọc Mỹ T, sinh ngày 22/10/2007 cho ông Nguyễn Ngọc S được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung. Ông S có ý kiến nếu bà H không đồng ý giao cháu T cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng thì không được yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung. Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà sơ thẩm bị đơn bà Lưu Thị H trình bày:
Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự số 09/2018 ngày 05/01/2018 của Toà án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài) thì ông S có nghĩa vụ cấp dưỡng 3.000.000đồng/01 tháng. Tuy nhiên, ông S chỉ cấp dưỡng nuôi con đến năm 2019 thì không cấp dưỡng nuôi con nữa nên bà H có tức giận nói cháu T không liên lạc với ông S. Việc cháu T không dùng điện thoại di động là do trường học cháu T khuyến cáo học sinh không được sử dụng điện thoại. Bà H không cản trở việc ông S tham nom, chăm sóc cháu T như ông S trình bày mà chính do ông S không đến thăm nom, chăm sóc cháu T.
Ông S là người có thu nhập cao và ổn định nhưng không cấp dưỡng nuôi con thì không thể trực tiếp nuôi con chung được. Hiện nay, ông S cũng có gia đình khác nữa. Bà H không đồng ý yêu cầu của ông S về việc không cấp dưỡng nuôi con chung và thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Ngoài ra bà H không có ý kiến nào khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án cháu Nguyễn Ngọc Mỹ T trình bày:
Cháu T xác định có cuộc sống bình thường với mẹ là bà H. Cháu T được ăn học đầy đủ và hiện học lớp 10A1.5 Trường Trung học phổ thông Hùng Vương, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Cháu T xác nhận có một thời gian bà H nói không cho liên hệ với ông S. Cháu T có nguyện vọng muốn ở với mẹ là bà H do cháu thương mẹ đã vất vả nuôi cháu lớn và cháu không muốn thay đổi môi trường sống khi bố hiện nay sống ở xa. Ngoài ra cháu không có ý kiến nào khác.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước:
Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho khi xét xử nhận thấy: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm; các đương sự đã được Tòa án thực hiện các hoạt động tố tụng đảm bảo quyền, nghĩa vụ của mình.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của ông S là không có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đương sự. Tòa án nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án. Ông Nguyễn Ngọc S khởi kiện đối với bị đơn bà Lưu Thị H đề nghị Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn. Bà Lưu Thị H có nơi cư trú tại Tổ 1, khu phố S Đ, phường T X, thành phố Đ X, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án xác định đây là vụ án dân sự trong đó các đương sự tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
[1.2]. Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc S, cháu Nguyễn Ngọc Mỹ T vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt cháu T và ông S.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Ông Nguyễn Ngọc S và bà Lưu Thị H trước đây là vợ chồng, đã ly hôn vào ngày 05/01/2018, có con chung là cháu Nguyễn Ngọc Mỹ T. Theo thoả thuận thuận tình ly hôn giữa ông S và bà H, cháu Nguyễn Ngọc Mỹ T giao cho bà H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, ông S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 3.000.000đồng/01 tháng. Đây là những tình tiết không phải chứng minh được thể hiện tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự số 09/2018 ngày 05/01/2018 của Toà án nhân dân thị xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước.
[2.2]. Xét yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc S.
Ông S cho rằng việc bà H thu lại điện thoại của cháu T và không thông báo địa chỉ sau khi mua nhà, chuyển sang nơi ở mới, điều đó làm ông S không liên lạc được với cháu T và ảnh hưởng đến quyền thăm nom, chăm sóc con chung của ông. Tuy nhiên, ông S không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc bà H cố tình ngăn cản ông S thăm nom, chăm sóc cháu T.
Bà H cho rằng cháu T không dùng điện thoại di động là do trường học cháu T khuyến cáo học sinh không được sử dụng điện thoại. Bà H không ngăn cản ông S chăm nom và chăm sóc cháu T mà do ông S không đến thăm nom, chăm sóc cháu T. Xét thấy, lời khai của bà H là có cơ sở bởi vì cháu T đang ở độ tuổi phát triển, việc học tập là quan trọng nhất nên hạn chế sử dụng điện thoại được khuyến khích. Ông S thừa nhận chỉ một lần tìm gặp cháu T, dù biết nơi cháu T học tập nhưng không liên hệ với trường học của cháu T hay nhờ đến chính quyền, địa phương giải quyết để gặp cháu T. Mặt khác, ông S thừa nhận từ năm 2020 đến nay đã không cấp dưỡng nuôi con chung theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự số 09/2018 ngày 05/01/2018 của Toà án như vậy ông S là người vi phạm nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quyết định của Toà án.
Đối với ý kiến của ông S về việc không cấp dưỡng nuôi con chung theo quyết định của Toà án. Xét thấy, việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung vừa là quyền và là nghĩa vụ của bố và mẹ. Bà H đề nghị ông S phải có trách nhiệm cấp dưỡng theo thoả thuận giữa ông S và bà H và được Toà án ghi nhận. Ông S thừa nhận là cán bộ Công an về hưu, có thu nhập ổn định hàng tháng nên ý kiến, đề nghị của ông S không có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên và nguyện vọng của cháu T muốn được chung sống trực tiếp với bà H, hiện nay ông S đã liên lạc, thăm nom, chăm sóc cháu T bình thường nên yêu cầu khởi kiện của ông S là không có cơ sở chấp nhận.
[3]. Về án phí sơ thẩm: Ông S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 267; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về "Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án" của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc S về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn giữa ông Nguyễn Ngọc S và bà Lưu Thị H.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Ông Nguyễn Ngọc S phải chịu 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004791 ngày 09/03/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
3. Quyền kháng cáo: Bà Lưu Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Ngọc S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp pháp./. Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND Tp Đồng Xoài; - Chi cục THADS Tp Đồng Xoài; - Các đương sự; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vũ Đình Kiên |