- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc Tâm "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 52/2022/HS-ST Ngày 13/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thắng và bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 đối với:
Bị cáo: Lê Quốc T; Tên gọi khác: C; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/10/1987, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố X, Phường Y, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Con ông Lê Văn T1 (đã chết) và bà Lê Thị N; Gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: 02 tiền án:
+ Ngày 21/4/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 11/9/2015, chưa được xóa án tích;
+ Ngày 19/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Gio Linh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 05/02/2020, chưa chấp hành số tiền bồi thường dân sự;
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2005, bị Công an Phường Y, thành phố Đ xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 16/3/2022. Ngày 17/3/2022 bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đông Hà cho đến nay. Có mặt.
2. Những người tham gia tố tụng:
2.1. Bị hại:
- Đại học H địa chỉ: số 03 đường L, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang L – Giám đốc Đại học H.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Hương L - Trưởng phòng tổ chức hành chính phân hiệu Đại học H tại Quảng Trị, có mặt.
- Ông Lê Văn H, sinh năm: 1962; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện CL, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lê Văn T, sinh năm: 1995; địa chỉ: Khu phố A, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh Lê Quốc T, sinh năm: 1978; địa chỉ: Khu phố C, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Chị Trần Thị Thùy D, sinh năm: 1986; địa chỉ: Khu phố L, phường ĐL, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Chị Lương Thị Ngọc B, sinh năm: 1973; địa chỉ: Khu phố A, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Anh Lê T, sinh năm: 1972; địa chỉ: Thôn CV, xã CT, huyện CL, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Ông Lê C, sinh năm: 1942; địa chỉ: Thôn CV, xã CT, huyện CL, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Quốc T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nhưng trong tháng 11/2021, T cùng với Lê Văn T1 đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác đã 07 lần thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt dây cáp điện và dây đồng của Phân hiệu Đại học H tại Quảng Trị (thuộc khu phố T, phường ĐL, thành phố Đ). Ngoài ra, khoảng 17 giờ ngày 09/02/2022 một mình T còn thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 02 tấm tôn của anh Lê Văn H, trú tại thôn CV, xã CT, huyện CL, cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Ngày 08/11/2021, T và T1 đến khu vực trồng tràm trong khuôn viên phân hiệu Đại học H tại Quảng Trị để bẫy chim thì phát hiện tại khu vực các cột đèn cao áp gần hàng rào có một đoạn dây cáp điện ngầm lộ lên mặt đất, không có điện nên T nảy sinh ý định lấy trộm dây cáp điện ngầm trên. Khoảng 11 giờ ngày 09/11/2021, T điều khiển xe mô tô hiệu HUNDACPI, màu nâu, không có biển kiểm soát (mượn của anh Lê Quốc T, sinh năm: 1978, trú tại khu phố X, Phường Y, thành phố Đ) mang theo xẻng, cưa cầm tay, xà beng, dao rọc giấy đến nhà rủ T1 đi trộm dây cáp điện. T1 đồng ý, nên cả hai cùng nhau đi đến khu vực hàng rào của Phân hiệu Đại học H. Khi đến vị trí có dây cáp điện ngầm bị lộ lên khỏi mặt đất thì T và T1 đã thay nhau dùng xẻng đào xuống cách mặt đất khoảng 01m thì phát hiện dây cáp điện ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC và dây đồng trần M10. T1 dùng cưa cầm tay để cưa đứt sợi dây cáp điện và dây đồng rồi sau đó cùng T dùng tay rút hai sợi dây ra khỏi lòng đất. T và T1 rút được 01 (một) đoạn dây cáp điện dài 05m và 01 (một) đoạn dây đồng dài 05m. Sau đó, T và T1 đem dây cáp điện đến gần đó đốt vỏ ngoài lấy đồng bên trong đem bán cho chị Lương Thị Ngọc B được số tiền là 800.000 đồng, T và T1 cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 14/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tổng trị giá của 01 sợi dây cáp ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC 4x16, dài 05m và 01 sợi dây đồng trần M10, dài 05m, đã qua sử dụng, tài sản không thu giữ được, không kiểm tra chi tiết bên trong, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 517.500 đồng.
- Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ ngày 10/11/2021, T điều khiển xe mô tô hiệu HUNDACPI, màu nâu, không có biển kiểm soát, mang theo xẻng, cưa cầm tay, xà beng, dao rọc giấy đến nhà chở T1 đến khu vực các cột đèn điện cao áp trong khuôn viên Phân hiệu Đại học H nằm sát hàng rào để trộm cắp dây cáp điện. Lần này, T và T1 đã đào vào lấy được 01 (một) đoạn dây cáp điện ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC dài 13m và 01 (một) đoạn dây đồng trần M10 dài 13m. Sau đó, T và T1 đem dây cáp điện đến gần đó đốt vỏ ngoài lấy đồng bên trong đem bán cho chị Bích được số tiền là 1.500.000 đồng, T và T1 cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 13/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tổng trị giá của 01 sợi dây cáp ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC 4x16, dài 13m và 01 sợi dây đồng trần M10, dài 13m, đã qua sử dụng, tài sản không thu giữ được, không kiểm tra chi tiết bên trong, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.345.500 đồng.
- Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ ngày 11/11/2021, T điều khiển xe mô tô hiệu HUNDACPI, màu nâu, không có biển kiểm soát, mang theo xẻng, cưa cầm tay, xà beng, dao rọc giấy đến nhà chở T1 đến khu vực các cột đèn điện cao áp trong khuôn viên Phân hiệu Đại học H nằm sát hàng rào để trộm dây cáp điện. Lần này, T và T1 đã đào vào lấy được 01 (một) đoạn dây cáp điện ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC dài 10m và 01 (một) đoạn dây đồng trần M10 dài 10m. Sau đó, T và T1 đem dây cáp điện đến gần đó đốt vỏ ngoài lấy đồng bên trong đem bán cho chị Bích được số tiền là 1.200.000 đồng, T và T1 cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 13/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tổng trị giá của 01 sợi dây cáp ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC 4x16, dài 10m và 01 sợi dây đồng trần M10, dài 10m, đã qua sử dụng, tài sản không thu giữ được, không kiểm tra chi tiết bên trong, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.035.000 đồng.
- Vụ thứ tư: Khoảng 11 giờ ngày 12/11/2021, T điều khiển xe mô tô hiệu HUNDACPI, màu nâu, không có biển kiểm soát, mang theo xẻng, cưa cầm tay, xà beng, dao rọc giấy đến nhà chở T1 đến khu vực các cột đèn điện cao áp trong khuôn viên Phân hiệu Đại học H nằm sát hàng rào để trộm dây cáp điện. Lần này, T và T1 đã đào vào lấy được 01 (một) đoạn dây cáp điện ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC dài 5,5m và 01 (một) đoạn dây đồng trần M10 dài 5,5m. Sau đó, T và T1 đem dây cáp điện đến gần đó đốt vỏ ngoài lấy đồng bên trong đem bán cho chị Bích được số tiền là 900.000 đồng, T và T1 cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tổng trị giá của 01 sợi dây cáp ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC 4x16, dài 5,5m và 01 sợi dây đồng trần M10, dài 5,5m, đã qua sử dụng, tài sản không thu giữ được, không kiểm tra chi tiết bên trong, tại thời điểm bị chiếm đoạt là: 569.250 đồng.
- Vụ thứ năm: Khoảng 11 giờ ngày 13/11/2021, T điều khiển xe mô tô hiệu HUNDACPI, màu nâu, không có biển kiểm soát, mang theo xẻng, cưa cầm tay, xà beng, dao rọc giấy đến nhà chở T1 đến khu vực các cột đèn điện cao áp trong khuôn viên Phân hiệu Đại học H nằm sát hàng rào để trộm dây cáp điện. Lần này, T và T1 đã đào vào lấy được 01 (một) đoạn dây cáp điện ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC dài 05m và 01 (một) đoạn dây đồng trần M10 dài 05m. Sau đó, T và T1 đem dây cáp điện đến gần đó đốt vỏ ngoài lấy đồng bên trong đem bán cho chị Bích được số tiền là 800.000 đồng, T và T1 cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tổng trị giá của 01 sợi dây cáp ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC 4x16, dài 05m và 01 sợi dây đồng trần M10, dài 05m, đã qua sử dụng, tài sản không thu giữ được, không kiểm tra chi tiết bên trong, tại thời điểm chiếm đoạt là: 517.500 đồng.
- Vụ thứ sáu: Khoảng 11 giờ ngày 14/11/2021, T điều khiển xe mô tô hiệu HUNDACPI, màu nâu, không có biển kiểm soát, mang theo xẻng, cưa cầm tay, xà beng, dao rọc giấy đến nhà chở T1 đến khu vực các cột đèn điện cao áp trong khuôn viên Phân hiệu Đại học H nằm sát hàng rào để tiếp tục trộm dây cáp điện. Lần này, T và T1 đã đào vào lấy được 01 (một) đoạn dây cáp điện ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC dài 15m và 01 (một) đoạn dây đồng trần M10 dài 15m. Sau đó, T và T1 đem dây cáp điện đến gần đó đốt vỏ ngoài lấy đồng bên trong đem bán cho chị Bích được số tiền là 1.680.000 đồng, T và T1 cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tổng trị giá của 01 sợi dây cáp ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC 4x16, dài 15m và 01 sợi dây đồng trần M10, dài 15m, đã qua sử dụng, tài sản không thu giữ được, không kiểm tra chi tiết bên trong, tại thời điểm bị chiếm đoạt là: 1.552.500 đồng.
- Vụ thứ bảy: Khoảng 16 giờ ngày 20/11/2021, T điều khiển xe mô tô hiệu HUNDACPI, màu nâu, không có biển kiểm soát, mang theo xẻng, cưa cầm tay, xà beng, dao rọc giấy đến nhà chở T1 đến khu vực các cột đèn điện cao áp trong khuôn viên Phân hiệu Đại học H nằm sát hàng rào để tiếp tục trộm dây cáp điện. Lần này, T và T1 đã đào vào lấy được 01 (một) đoạn dây cáp điện ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC dài 10m và 01 (một) đoạn dây đồng trần M10 dài 10m. T và T1 vừa đem được 02 (hai) đoạn dây lên khỏi mặt đất định đem đi đốt vỏ ngoài lấy đồng bên trong thì bị cơ quan Công an phát hiện.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tổng trị giá 01 sợi dây cáp ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC 4x16, dài 10m và 01 sợi dây đồng trần M10, dài 10m, đã qua sử dụng, tài sản thu giữ được, không kiểm tra chi tiết bên trong, tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.386.900 đồng.
- Vụ thứ tám: Ngoài những vụ trộm cắp tài sản trên thì khoảng 17 giờ ngày 09/02/2022, T điều khiển xe mô tô hiệu Dream, màu nâu, BKS 74F3-5286 mượn của chị Trần Thị Thùy D di chuyển theo hướng CT về TA trên đường Quốc lộ 9 nối dài tránh bắc Đ. Khi đi đến nhà cũ của anh Lê Văn H, T phát hiện nhà không có người ở nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T điều khiển xe mô tô đến gần ngôi nhà, dừng xe rồi đi bộ vào trong nhà và phát hiện có 02 tấm tôn cũ có kích thước 1,44 x 1,07m, có khối lượng 8,2 kg nên có ý định lấy trộm đem bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Khi T đưa 02 tấm tôn lên đặt ở bức tường phía Đông của ngôi nhà để chuẩn bị đem ra xe chở đi thì bị phát hiện.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 06/KL-ĐGTS ngày 07/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện CL kết luận: Trị giá của 02 (hai) tấm tôn kẽm đã qua sử dụng, kích thước 1,44 x 1,07m, đã cũ, bị rỉ rét, khối lượng 8,2kg tại thời điểm bị chiếm đoạt là 41.000 đồng.
Cáo trạng số 46/CT-VKSĐH ngày 05/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Lê Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc T từ 14 đến 16 tháng tù.
Xử lý vật chứng:
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- 10m dây cáp điện, màu đen, đường kính 2,4cm;
- 10m dây bằng kim loại, đường kính 0,5cm;
+ Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cái xẻng, cán bằng gỗ, dài 1,55m, phần lưỡi bằng kim loại, dài 31cm, rộng 19cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cưa sắt màu đỏ, lưỡi màu đen, kích thước 46x10cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) xà beng, dài 50cm, đường kính 1,6cm;
- 01 (một) con dao rọc giấy màu vàng, dài 17cm;
+ Trách nhiệm dân sự: Bị cáo và Lê Văn T phải bồi thường cho Đại học H 6.924.150 đồng (sáu triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn một trăm năm mươi đồng).
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định:
Từ ngày 09/11/2021 đến ngày 20/11/2021 Lê Quốc T và Lê Văn Tđã cùng nhau có hành vi lén lút thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản là dây cáp điện ngầm hiệu CXV/DSTA/PVC và dây đồng trần M10 tại Phân hiệu Đại học H tại Quảng Trị thuộc Đại học H (đường Điện Biên Phủ, thuộc khu phố TV, phường ĐL, thành phố Đ). Ngoài ra, ngày 09/02/2022 một mình Lê Quốc T còn có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 tấm tôn của anh Lê Văn H, địa chỉ: Thôn CV, xã CT, huyện CL, tỉnh Quảng Trị. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt của Phân hiệu Đại học H tại Quảng Trị thuộc Đại học H là 6.924.150 đồng (sáu triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn một trăm năm mươi đồng); giá trị tài sản chiếm đoạt của anh Lê Văn H là 41.000 đồng (bốn mươi mốt nghìn đồng), tổng cộng: 6.965.150 đồng (sáu triệu chín trăm sáu mươi lăm nghìn một trăm năm mươi đồng).
Mặc dù mỗi lần chiếm đoạt tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng do bị cáo Lê Quốc T có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nên hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong nhân dân. Để đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tương xứng với mức độ hành vi do bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như xét xử tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là hộ cận nghèo năm 2022 nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Mặc dù bị cáo Lê Quốc T thực hiện 08 vụ trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm nguồn sống chính nên không xem xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”. Bị cáo khai nhận mục đích mỗi lần trộm cắp tài sản để nhằm tiêu xài cá nhân, khi nào không có tiền để tiêu xài bị cáo lại nảy sinh ý định và tiếp tục đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản đồng thời cũng là người thực hành tích cực. Trên cơ sở tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi cùng với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ban hành Quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra đã tạm giữ:
- 10m dây cáp điện, màu đen, đường kính 2,4cm;
- 10m dây bằng kim loại, đường kính 0,5cm;
- 01 (một) cái xẻng, cán bằng gỗ, dài 1,55m, phần lưỡi bằng kim loại, dài 31cm, rộng 19cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cưa sắt màu đỏ, lưỡi màu đen, kích thước 46x10cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) xà beng, dài 50cm, đường kính 1,6cm;
- 01 (một) con dao rọc giấy màu vàng, dài 17cm;
- 01 (một) xe mô tô hiệu HUNDACPI, màu nâu, số khung: CGDP8A00070, số máy: 50FMG000707;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát: 74F3-5286, xe cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong;
- 02 (hai) tấm tôn kích thước 1,44 x 1,07m, đã qua sử dụng.
Ngày 20/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 11/QĐ bằng hình thức: Trả lại xe mô tô hiệu HUNDACPI, màu nâu, số khung: CGDP8A00070, số máy: 50FMG000707cho chủ sở hữu là anh Lê Quốc Thắng.
Ngày 11/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CL đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 06/QĐ-CSĐT bằng hình thức:
- Trả lại xe mô tô nhãn hiệu Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát: 74F3-5286, xe cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Thùy D.
- Trả lại 02 (hai) tấm tôn kích thước 1,44 x 1,07m, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là anh Lê Văn H.
Đối với 10m dây cáp điện, màu đen, đường kính 2,4cm; 10m dây bằng kim loại, đường kính 0,5cm, là tài sản của Đại học H, không có nhu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;
Đối với 01 (một) cái xẻng, cán bằng gỗ, dài 1,55m, phần lưỡi bằng kim loại, dài 31cm, rộng 19cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cưa sắt màu đỏ, lười màu đen, kích thước 46x10cm, đã qua sử dụng; 01 (một) xà beng, dài 50cm, đường kính 1,6cm; 01 (một) con dao rọc giấy màu vàng, dài 17cm, của bị cáo dùng làm công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Lê Thị Hương L – đại diện theo ủy quyền của Đại Học H yêu cầu Lê Quốc T và Lê Văn T1 bồi thường thiệt hại 6.924.150 đồng, cần chấp nhận buộc bị cáo Lê Quốc T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn T1liên đới bồi thường cho Đại học H.
- Bị hại anh Lê Văn H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lê Quốc T và chị Trần Thị Thùy D đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Chị Lương Thị Ngọc B không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về các hành vi liên quan:
Đối với Lê Văn T không có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, đã cùng với T thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản vào tháng 11/2021, tuy nhiên trị giá tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt trong từng vụ trộm cắp tài sản đều dưới 2.000.000 đồng nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 26/01/2022, Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Đối với anh Lê Quốc T và chị Trần Thị Thùy D là người cho Lê Quốc T mượn xe mô tô nhưng không biết việc T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
Đối với chị Lương Thị Ngọc B là người mua tài sản do T và T1 bán nhưng không biết các tài sản đó là do phạm tội mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
Về án phí: Bị cáo Lê Quốc T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn T1 phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Lê Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 17/3/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- 10m dây cáp điện, màu đen, đường kính 2,4cm;
- 10m dây bằng kim loại, đường kính 2,4 cm;
+ Tịch thu sung tiêu hủy:
- 01 (một) cái xẻng, cán bằng gỗ, dài 1,55m, phần lưỡi bằng kim loại, dài 31cm, rộng 19cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) cưa sắt màu đỏ, lưỡi màu đen, kích thước 46x10cm, đã qua sử dụng;
- 01 (một) xà beng, dài 50cm, đường kính 1,6cm;
- 01 (một) con dao rọc giấy màu vàng, dài 17cm;
Các vật chứng trên có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/4/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Đông Hà và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đông Hà, hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 587, 589 Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Lê Quốc T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn T1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Đại Học H số tiền 6.924.150 đồng (sáu triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn một trăm năm mươi đồng), theo đó bị cáo Lê Quốc T phải bồi thường 3.462.075 đồng (ba triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn không trăm bảy mươi lăm đồng); Lê Văn T phải bồi thường 3.462.075 đồng (ba triệu bốn trăm sáu mươi hai nghìn không trăm bảy mươi lăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”, bị cáo Lê Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Cao Thắng Nguyễn Thị Mỹ Vinh
Đoàn Thị Quỳnh Châu
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; - CA, VKSND, CCTHADS TP. Đông Hà; - Bị cáo; - THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Đoàn Thị Quỳnh Châu | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |