- Tranh chấp gì? án hình sự — "xét xử - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Hủy hoại tài sản” .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HS-ST Ngày: 31/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lê Giang và ông Hoàng Minh Hải.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Nhàn - Cán bộ Tòa án;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Đạt– Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2022/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2022/QĐXXST-HS ngày 18/8/2022 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh năm: 1988, tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D và con bà Nguyễn Thị D1; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N (đã ly hôn); bị cáo có 02 con (trong đó 01 con đã chết năm 2022); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được Cơ quan cảnh sát điều tra ra Lệnh cấm đi khỏi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
*Bị hại: Chị Nguyễn Thị N; vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
* Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
4.1. Anh Nguyễn Xuân T; vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
4.2.Nguyễn Sỹ S; vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị N trước đây là vợ chồng đến năm 2021 thì hai bên thuận tình ly hôn tại Quyết định số 80/2021/QĐST-HNGĐ ngày 01/9/2021của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Chị N sống cùng con trai là Nguyễn Chương D (sinh năm 2015) tại nhà thuê thuộc Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/02/2022, Nguyễn Văn H đến nhà chị N, lúc này chị N và cháu D đang ngủ ở trong phòng. H gọi cháu D dậy rửa mặt để H chở đi chơi, khi cháu D ra khỏi phòng thì H đóng cửa phòng ngủ lại. Sau đó, H cởi quần của chị N và dùng tay sờ vào các bộ phận nhạy cảm của chị N thì bị chị N dùng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 5 để gọi cho anh Nguyễn Xuân T đến giúp đỡ thì bị H dùng tay bẻ chiếc điện thoại gãy biến dạng, hư hỏng. Một lúc sau anh T đến nhà chị N thì bị H dùng tay đánh, hai bên vật lộn thì được mọi người can ngăn nên H đi về. Sau đó, H quay lại nhà chị N, trên tay cầm 01 con dao dài khoảng 40 – 50cm và đuổi đánh anh T. Anh T bỏ chạy đến nhà ông Nguyễn Sỹ S nói cho ông S biết vụ việc trên. Khi ông S đến nhà thì được chị N kể lại nội dung vụ việc cho ông S nghe, đồng thời đưa cho ông S xem chiếc điện thoại mà H bẻ gãy biến dạng, hư hỏng trước đó. Thấy vậy, H giật chiếc điện thoại từ tay của ông S và ném xuống nền nhà gây hư hỏng hoàn toàn.
Tại Biên bản định giá tài sản và Bảng kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 13/HĐ-ĐG ngày 24/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Song kết luận giá trị thiệt hại của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 5 tính thành tiền là 3.500.000 đồng.
Về hành vi H dùng tay sờ vào các bộ phận nhạy cảm của chị N thì chị N đã làm đơn rút không yêu cầu xem xét trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định điểm đ khoản 5 điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
Về hành vi đuổi đánh anh T chưa gây ra hậu quả gì, anh T không có ý kiến gì nên không xem xét giải quyết.
Tại bản Cáo trạng số 53/CTr-VKS ngày 02/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Hủy hoại tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS;
Xử phạt Nguyễn Văn H từ 06 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về xử lý vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Đề nghị chấp nhận cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 5 đã bị hư hỏng.
Việc bồi thường thiệt hại: Chấp nhận bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường thiệt hại số tiền 9.000.000 đồng cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề cập xử lý.
Đối với hành vi của Nguyễn Văn H dùng tay sờ vào các bộ phận nhạy cảm của chị Nguyễn Thị N, ngày 13/4/2022 chị N đã có đơn rút yêu cầu không xem xét giải quyết về trách nhiệm hình sự. Căn cứ điểm đ khoản 5 điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, ngày 14/7/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn H về hành vi quấy rối tình dục với số tiền 6.500.000 đồng.
Tại phiên toà, Nguyễn Văn H không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại không có ý kiến gì, đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án: khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/02/2022, Nguyễn Văn H đến nhà chị Nguyễn Thị N ở Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông có hành vi quấy rối chị N, thì chị N dùng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 5 để gọi cho anh là Nguyễn Xuân T đến giúp đỡ thì bị H dùng tay bẻ chiếc điện thoại gây biến dạng, hư hỏng, sau đó ném xuống nền nhà, hủy hoại hoàn toàn, giá trị thiệt hại là 3.500.000 đồng.
Với mức độ hủy hoại tài sản có giá trị như trên thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Hủy hoại tài sản " được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại khoản 1 Điều 178 BLHS quy định:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
2. …”
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Mặc dù, hành vi của bị cáo chưa dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, nhưng để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật thì cần phải xử bị cáo ở mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội do điều kiện hoàn cảnh gia đình, chị N là vợ cũ của bị cáo, mặc dù đã ly hôn, nhưng vẫn qua lại thăm con chung, do không kiềm chế được bản thân nên bị cáo đã có hành vi trái pháp luật. Sau khi sự việc xảy ra phía bị hại đã có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án, về hành vi dùng tay sờ vào các bộ phận nhạy cảm của chị N thì chị N đã làm đơn rút không yêu cầu xem xét trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử phạt hành chính. Còn hành vi hủy hoại tài sản, không phải thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Trường hợp này hành vi của bị cáo H đã hủy hoại tài sản hoàn toàn, đủ định lượng (giá trị tài sản bị cáo hủy hoại theo kết quả định giá là 3.500.000 đồng), đủ yếu tố cấu thành tội nên cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ: HĐXX thấy rằng bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nơi cư trú rõ ràng, ổn định; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi toàn bộ thường thiệt hại cho bị hại với số tiền 9.000.000 đồng, giá trị thiệt hại tài sản không lớn, bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những phân tích trên HĐXX xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 BLHS giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi bị cáo cư trú và gia đình phối hợp giáo dục cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song là có căn cứ nên chấp nhận.
Việc bồi thường thiệt hại: Chấp nhận bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và không yêu cầu gì thêm nên không đề cập xử lý.
Việc xử lý vật chứng của vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Chấp nhận cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 5 đã bị hư hỏng hoàn toàn.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Hủy hoại tài sản” .
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn H 09 (chín ) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
1.2 Việc bồi thường thiệt hại: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 của BLHS: Chấp nhận bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường số tiền 9.000.000 đồng cho bị hại và không yêu cầu gì thêm nên không đề cập xử lý.
1.3. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Chấp nhận cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO RENO 5 đã bị hư hỏng hoàn toàn.
1.4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
1.5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ;
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Đ; - VKSND tỉnh Đ; - VKSND huyện Đắk Song; - CA huyện Đắk Song; - Chi cục THA DS huyện Đ; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Hoàng Thị Thu Hà |