vanban.org

Bản án 52/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 20/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội "Trộm cắp tài sản ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ch 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo treo thành 12 tháng tù giam của bản án hình sự sơ thẩm số 38/HSST ngày 16/11/2020 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang. Buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt chung của cả hai bản án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội "Trộm cắp tài sản ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 56 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NINH BÌNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 52/2022/HS-ST
Ngày 20/05/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Việt Thanh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Vinh – Ông Nguyễn Chí Thanh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Linh Chi – Thư ký viên chính Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 05 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2022/HS-ST, ngày 14/04/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2022/QĐXXST-HS ngày 06/05/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Ch, sinh năm:1989, nơi cư trú: đội 9, xã Yên Nhân, huyện Ý , tỉnh N. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ và con bà: Phạm Thị L; Vợ: Nguyễn Thị Thu H, con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/HSST ngày 16/11/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Giang đã xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa thi hành bản án này do chưa nhận được quyết định thi hành án.

Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/01/2022, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt.

Bị hại.

- Anh Trần Văn H, sinh năm: 1963

Nơi cư trú: số nhà 46, ngõ 52, đường Phạm Văn Ng, phố 4, phường Đông Th, thành phố N, tỉnh N. Vắng mặt.

2.3 Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Phạm Thị L, sinh năm: 1959. Vắng mặt.

Nơi cư trú: đội 9, xã Y, huyện Ý , tỉnh N.

- Anh Nguyễn Văn V, sinh năm: 1986

Nơi cư trú: tổ 14, phường Tr, thành phố Hà Gi, tỉnh Hà Gi.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 15/10/2021, bị cáo Nguyễn Văn Ch điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển kiểm soát 23C5 - 003. từ nhà tại xã Yên Nh, huyện Ý, tỉnh N sang thành phố Ninh Bình để tìm quán tẩm quất, masage. Do dịch bệnh nên các quán tẩm quất, massage không mở cửa nên bị cáo điều khiển quanh khu vực thành phố Ninh Bình với mục đích tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đi đến trước cửa nhà ông Trần Văn H, sinh năm 1963 tại số nhà 46, ngõ 52, đường Phạm Văn Ng, phố 4, phường Đ, thành phố N bị cáo quan sát thấy trong sân nhà, sát tường rào có để 01 chậu cây sanh, dáng bon sai kích thước khoảng (50 x 30 cm) được trồng trong một chậu màu nâu kích thước khoảng (40 x 25 x 15) cm, đặt trên một đôn cao khoảng 70 cm nên Chương nảy sinh ý định lấy trộm. Bị cáo điều khiển xe mô tô đến ngã tư đầu ngõ rồi đi bộ quan sát, trèo qua hàng rào, dùng tay phải túm lấy thân cây nhấc cả cây và chậu lên và trèo qua hàng rào rồi nhảy xuống đất thì chậu cây bị rơi vỡ. Bị cáo bê cây sanh chạy đến vị trí dựng xe mô tô, đặt lên gacbaga xe rồi điều khiển xe bỏ trốn khỏi hiện trường. Khi đi đến khu vực quảng trường Đinh Tiên Hoàng Đế thuộc phố Mía Đông, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, quan sát xung quanh không có ai, bị cáo giấu cây sanh vừa trộm cắp được vào bụi cỏ rồi tiếp tục điều khiển xe đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi bị cáo đang đi trên đường Đinh Tiên Hoàng, phố Mía Đông, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình thì bị Tổ công tác Công an phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình đang tuần tra phát hiện bị cáo có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra thì bị cáo vứt xe bỏ chạy nhưng bị tổ công tác bắt giữ. Tại Công an phường Ninh Khánh, Nguyễn Văn Ch khai nhận vừa mới thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 cây sanh dáng bon sai trên địa bàn phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình. Tổ công tác tiến hành thu giữ 01 cây sanh dáng bon sai kích thước khoảng (50 x 30) cm, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển kiểm soát 23C5 – 003..; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đỏ của Nguyễn Văn Ch.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS ngày 13/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố Ninh Bình, kết luận: 01 Cây sanh (dạng bon sai) cao 50 cm, rộng 30 cm có giá là 2.500.000 đồng; 01 chậu cây cảnh màu nâu kích thước dài 40 cm, rộng 25 cm, cao 15 cm có giá là 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 3.000.000 đồng.

Đối với 01 cây sanh dáng bon sai, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của ông Trần Văn H, do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cây trên cho ông H, ông H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì. Đối với 01 chiếc chậu màu nâu kích thước khoảng (40 x 25 x 15) cm của ông Trần Văn H đã bị Nguyễn Văn Ch làm vỡ trong lúc trộm cắp nhưng ông H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại trên.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo biển kiểm sóat 23C5 - 003.23 thu giữ của Nguyễn Văn Ch, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1986, trú tại phường Trần Ph, thành phố Hà Gi, tỉnh Hà Gi là anh ruột của bị cáo. Do bị cáo không có xe để đi lại nên anh V đã cho bị cáo mượn chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại, ngày 15/10/2021 bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để đi trộm cắp tài sản anh V không biết. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại chiếc xe mô tô trên anh V theo quy định.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của Nguyễn Văn Ch, quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại trên là của bà Phạm Thị L, sinh năm 1959, trú tại xã Yên Nh, huyện huyện Ý , tỉnh Nam Đ là mẹ đẻ của bị cáo không liên quan đến vụ án. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Binh đã trả lại chiếc điện thoại trên cho bà L theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 14/04/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Ch thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo thành 12 tháng tù giam của bản án hình sự sơ thẩm số 38/HSST ngày 16/11/2020 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Gi, tỉnh Hà Gi. Buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt chung của cả hai bản án từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 22/01/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả cho bị hại, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì, trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.

Bị cáo bị kết án phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Ch không có ý kiến gì với Bản kết luận định giá tài sản; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình; lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện công khai, hợp pháp đúng Pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn Ch đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; vật chứng của vụ án kết luận định giá tài sản, những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: khoảng 23 giờ 00 phút ngày 15/10/2021, tại nhà ông Trần Văn H ở số 46, ngõ 52, đường Phạm Văn Ng, phố 4, phường Đông Th, thành phố N, bị cáo Nguyễn Văn Ch có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 cây sanh dáng bon sai trồng trong chậu giá trị 3.000.000 đồng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Ch đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái Pháp luật, tài sản này được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung trong xã hội. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo để cá thể hóa hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án hình sự số 38/2020/HSST ngày 16/11/2020 Bị cáo Nguyễn Văn Ch bị TAND thành phố Hà Gi, tỉnh Hà Gi xét xét xử về tội “ Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội do cố ý, lần phạm tội này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; do đó cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ, hành vi của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo buộc bị cáo phải cách ly ra ngoài đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ sức răn đe để giáo dục, cải tạo bị cáo để góp phần phòng ngừa chung trong xã hội.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/HSST ngày 16/11/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Gi đã xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa thi hành bản án này, căn cứ khoản 5 Điều 65 BLHS chuyển 12 tháng tù cho hưởng án treo thành 12 tháng tù giam và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo Điều 56 BLHS.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Các vấn đề khác:

- Trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản trộm cắp đã thu hồi và trả lại cho bị hại là anh Trần Văn H. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về tài sản đã thu giữ: Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, việc trả lại là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội "Trộm cắp tài sản ”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ch 12 (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo treo thành 12 tháng tù giam của bản án hình sự sơ thẩm số 38/HSST ngày 16/11/2020 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang. Buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt chung của cả hai bản án là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 22/01/2022.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ch phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ