- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ TPMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 52/2022/HS - ST Ngày: 15 - 8- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Phấn
Ông Vũ Xuân Thùy
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Tùng – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: ông Mai Anh Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2022/QĐXXST – HS, ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Hòa, sinh năm 1968;
Nơi cư trú: xóm 13, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 2/10; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Í(đã chết), con bà Đặng Thị H (đã chết); Vợ là Lê Thị H, sinh năm 1968, có 4 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1998. Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 26/5/2005 bị TAND huyện Xuân Trường xử phạt 4 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 17/5/2007 bị TAND huyện Xuân Trường xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 30/5/2014 bị TAND huyện Giao Thủy xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/5/2022 đến 10/5/2022 chuyển tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H – Trợ giúp viên pháp lý
thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nam Định.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 04/5/2022 Nguyễn Văn H đi bộ từ nhà ở xóm 13, xã X đến tổ 1, thị trấn X hỏi mua ma túy để sử dụng.Tại đây H gặp người đàn ông không quen biết, qua dò hỏi biết người này bán heroine nên H hỏi mua 200.000 đồng. Người đàn ông đồng ý nhận tiền và đưa cho H ống nhựa màu xanh bịt kín hai đầu trong có chứa heroine. H nhận ma túy rồi đi bộ về nhà. Khoảng 11 giờ 30 ngày 04/5/2022 H đến xóm 1, xã X thì bị tổ tuần tra công an xã X và công an xã X1 kiểm tra phát hiện bắt quả tang. H giao nộp ống nhựa chứa heroine. Tổ công tác mời người làm chứng lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng(ký hiệu M) và bàn giao người, tang vật cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Trường. Khám nơi ở của H không thu giữ được gì. Xét nghiệm định tính Morphin ngày 04/5/2022 xác định Nguyễn Văn H dương tính với Morphin.
Theo bản kết luận giám định số 614/GĐKTHS ngày 06/5/2022 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong một đoạn ống nhựa màu xanh sọc trắng, hàn kín hai đầu, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,119 gam.
Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 05/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị tuyên bố Nguyễn văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn H từ 25 tháng đến 27 tháng tù. Miễn hình phạt tiền bổ sung đối với H. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư hoàn trả mẫu vật sau giám định;
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì thêm đối với quyết định truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm của bản thân. Người bào chữa cho bị cáo nhất trí việc truy tố Hòa là đúng người đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS do khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS do bị cáo nghề nghiệp không ổn định, nhiễm HIV, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, thuộc diện cận nghèo của xã để bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 00 ngày 04/5/2022 Kết luận giám định số 614/GĐKTHS ngày 06/5/2022 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định. Lời khai của người chứng kiến. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/5/2022 Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ trong người 0,119 gam Heroine. Hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại tới quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, chính sách phòng, chống tệ nạn ma túy mà Đảng và Nhà nước, nhân dân đang thực hiện quyết liệt cho nên cần nghiêm khắc phê phán và trừng trị thích đáng
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; Gia đình thuộc hộ cận nghèo, bản thân bị cáo đang nhiễm HIV. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã hai lần bị TAND các cấp xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy song bị cáo không chịu từ bỏ ma túy vẫn tiếp tục sử dụng ma túy cho nên cần xử phạt tù với mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội. Xét bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên miễn phạt tiền bổ sung cho bị cáo.
Tang vật của vụ án: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư đã được hoàn trả sau giám định có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại thi hành án dân sự huyện Xuân Trường.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố Nguyễn Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2022.
- Miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy phong bì thư đã được hoàn trả sau giám định (Chi tiết có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại thi hành án dân sự huyện Xuân Trường ngày 11/7/2022)
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh+huyện; - Chi cục THADS huyện Xuân Trường; - Công an huyện Xuân Trường; - UBND xã X; - Bị cáo; - Lưu HS+VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Ngọc Quỳnh |